Nguyễn Trọng Tiến

Nếu chỉ còn một ngày để sống…

Phật Học Cơ Bản

Posted by NguyenTrongTien on 16/02/2012

Ðạo Phật truyền vào Việt Nam ta đã trên 15 thế kỷ cho nên phần đông dân chúng nước ta là tín đồ Ðạo Phật. Dân chúng thường nói “Ðạo Phật là đạo của ông bà”, hay “Nhà nào có đốt hương, đều là tín đồ đạo Phật cả…”. Kể về số lượng thì tín đồ Phật Giáo ở Việt Nam thật là đông đảo; nhưng xét về phần phẩm, thì chúng ta chưa có thể lạc quan được. Tình trạng phẩm ít, lượng nhiều ấy phát sinh vì nhiều nguyên-nhân phức tạp: 

– Có người theo đạo Phật vì truyền-thống của ông cha (ông cha theo Ðạo Phật, nên con cháu cũng theo).

– Có người theo đạo Phật vì cảm-tình đối với thân bằng quyến thuộc, hay đối với cái Ðạo đã chia sẽ những phút vui buồn, thịnh suy của đất nước.

– Có người theo đạo Phật, vì mong cầu được tai qua nạn khỏi, hay cầu của, cầu con v.v…

Ngày nay, vẫn biết có môỉt số đông tín đồ đã hiểu đúng giá trị cao siêu và lợi ích rộng lớn của Ðạo Phật, nhưng cái số ấy không phải là đa số, nếu đem so với cái khối tín đồ hiểu Ðạo một cách nông cạn, hay sai lạc nói trên.

Vì không hiểu một cách thấu đáo Ðạo Phật, nên lòng tin không được chắc chắn. Mỗi khi gặp một lý thuyết nào lạ, một tôn giáo nào mới, thì họ ùa hòa tin theo, như cây thiếu r cái, gió thổi phía nào thì ngã rạp theo phía ấy, thật đáng buồn thương.

Tình trạng buồn thương ấy có thể bổ cứu được, nếu chúng ta có một chương trình dạy Phật Pháp bằng chữ Việt. Dân tộc ta là người Việt, ở đất Việt, ăn cơm Việt, nói tiếng Việt, mà kinh sách bằng chữ ngoại quốc; *cả chi triết lý cao sâu của Ðạo Phật cẫn còn nằm nguyên trong 3 tạng chữ Tàu, thử hỏi có mấy ai đọc được? Như thế thì bảo tín đồ làm sao hiểu biết giáo lý cao sâu của Ðạo Phật và lòng tin làm sao vững chắc được?

Nóng lòng vì tình *cảm ấy, chúng tôi bạo dạn và cố gắng soạn ra chương trình “Phật Học Phổ Thông”này, mong giúp tín đồ mau hiểu giáo lý, thấy được chỗ quí báu của Ðạo, để cho lòng tin được chơn chánh và vững bền.

Chúng tôi tự biết mình đức bạc tài sơ, chưa đủ khả năng làm việc vĩ đại này. Nhưng nếu do dự và nhún nhường mãi, rồi suất đời cũng chẳnh làm được gì. Chi bằng cứ cố gắng hy sinh đắp trước con đường đất, để cho các bực có tài đức sau này sửa chữa lại, rồi cán đá và tráng nhựa.

Chương trình “Phật Học Phổ Thông”có mục đích xây dựng cho tín đồ có căn bản giáo lý, hiểu biết Phật pháp từ thấp đến cao, lấy Ngũ Thừa Phật Giáo làm nền tảng.

Từ khóa thứ nhứt đến khóa thứ tư, chúng tôi đã soạn hết Ngũ Thừa Phật Giáo. Khi tín đồ đã hiểu giáo lý căn bản nói trên rồi các khóa sau, chúng tôi sẽ mở thêm bề rộng và xây thêm bề cao của tòa nhà Phật Giáo. Từ khóa thứ V đến khóa thứ XII, tín đồ sẽ tuần tự học về Ðại cương kinh Lăng nghiêm, Viên giác, Duy thức Luận và Kim Cang, Tâm Kinh*.

Chương trình này, chúng tôi đã soạn từ năm 1953 đến nay và đã xuất bản thành tập, từ tập Phật Học Phổ Thông thứ nhứt cho đến tập Phật Học Phổ Thông thứ 12.

Công việc trên đây là cả một gánh nặng, mà đường lại dài, chúng tôi khẩn thiết yêu cầu những vị nhiệt tâm vì đạo, từ quý vị đại đức Tăng Già cho đến các hàng Cư Sĩ, kẻ công người của tiếp sức với chúng tôi (hoặc giúp sáng kiến, tài liệu hay tài chánh), cùng nhau xây dựng cho hoàn bộ một chương trình Hoằng Pháp ở nước nhà, hầu bổ cứu những khuyết điểm và dẹp bỏ những tình tệ trong Ðạo Phật từ trước đến nay.

Chúng tôi chấm dứt trong sự tin tưởng ở lòng nhiệt thành vì Ðạo của quý vị độc giả xa gần.

 Thích Thiện Hoa

8 Quyển Sách Quý

Hoặc các liên kết sau:

Chùa Linh Sơn

Tu Viện Sùng Phúc

Thiền Lâm

Bài Học Ngàn Vàng

12 Khóa Phật Học Phổ Thông Cơ Bản

Phật Học Cơ Bản

Vấn Đáp HT. Tịnh Không.

Vấn : Người thông thường hay lo sợ tương lai, đối với việc vãng sanh, đối với cái chết, trong những việc thuộc về phương diện sống chết này, xin mời pháp sư vì chúng tôi khai thị?

Đáp : Sở dĩ họ lo sợ là vì đối với chân tướng sự thật họ hoàn toàn không hiểu biết, khi đã hiểu rõ thì tâm lo sợ ắt không còn. Phật nói, sinh mạng là vĩnh hằng bất diệt, hay nói cách khác, sinh mạng vốn dĩ không hề có chuyện chết đi, chết là vọng tưởng. Thân thể này không phải là ta, mọi người cứ xem thể xác này là mình, cho nên sanh ra lo sợ. Nếu biết thân xác này không phải là ta thì lo sợ làm gì. Cũng như biết được quần áo không phải là ta, quần áo chỉ là vật của ta, khi quần áo bẩn, bạn sẽ hoan hỉ đem vứt nó để thay một bộ quần áo mới. Thân xác này cũng là cái của ta, nhưng không phải là ta, dùng mấy mươi năm đã cũ, chúng ta nên vứt bỏ nó để thay một cái mới. Nếu bạn có quan niệm này, chẳng phải bạn sẽ rất tự tại sao? Đây là chân tướng sự thật, nếu bạn dùng thái độ như vậy để nhìn sanh tử thì bạn sẽ rất tự tại.

Khai thị của Đại Sư Ấn Quang

“Hãy đem ngay một chữ “Tử” dán vào trán. Hễ những cảnh chẳng nên tham luyến hiện ra liền biết đấy chính là vạc sôi, lò than của chính mình, quyết sẽ chẳng như con thiêu thân đâm đầu vào lửa, cam chịu đốt mình! Với những sự mình phải nên làm sẽ biết đấy là thuyền từ để thoát khổ, quyết sẽ chẳng đến nỗi gặp việc nhân bèn thoái thác, thấy việc nghĩa chẳng làm! Như thế thì trần cảnh sẽ là duyên để nhập đạo, há cần phải dứt sạch trần duyên mới kham tu đạo chăng? Bởi đã làm chủ được tâm, chẳng bị cảnh chuyển thì trần lao chính là giải thoát.

Vô thường mau lẹ sớm hồi đầu.
Thân này tuy có chẳng bền lâu.
Mai lo danh lợi, chiều nhắm mắt.
Khá mau niệm Phật kẻo bạc đầu.
Khuyên ai tinh tấn tìm giải thoát.
Sống tu kẻo chết biết về đâu!
Ngày đêm gắng nhớ câu niệm Phật.
Nguyện về Cực lạc khỏi đọa sâu.

Pháp ngữ của Hòa Thượng Tịnh Không

Thanh Tịnh – Bình Đẳng – Giác là tự tánh Tam Bảo. Thanh tịnh tâm là tự tánh Tăng Bảo. Bình đẳng là tự tánh Pháp Bảo. Giác mà không mê là tự tánh Phật Bảo.
Chúng ta dùng một câu Nam Mô A Di Đà Phật “khai mở tự tánh Tam Bảo”. Tự tánh Tam Bảo hiện tiền rồi, chính là minh tâm kiến tánh của thiền tông. Đại khai viên giải của giáo hạ. Biết được học Phật là học cái gì ? Niệm Phật lại là niệm cái gì ? Niệm đến công phu thuần thục, niệm đến thanh tịnh, bình đẳng, giác hiện tiền rồi thì cùng với cõi Tây Phương Tịnh Độ tương ưng. Một niệm tương ưng một niệm Phật, niệm niệm tương ưng niệm niệm Phật, nhất định được sanh Tịnh Độ.

Vấn Đáp _ Lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam.Vấn : Có người hỏi, nhà Phật cúng Phật dùng trái cây, hương, hoa, nến, trà là do ý nghĩa gì, xin thầy khai thị minh bạch.Đáp : Vật cúng vốn có nhiều thứ, nói chung tuân theo nguyên tắc “chẳng giết hại sanh mạng loài vật”. Nếu nói chi tiết, những vật dùng để cúng dường cũng nhằm thể hiện nghĩa lý. Nay nói về ý nghĩa của những thứ vừa được nêu lên [trong câu hỏi] thì trái cây là thực vật nhằm biểu thị Thiền Định, hương biểu thị tinh tấn, hoa biểu thị nhẫn nhục, nến biểu thị trí huệ, trà là nước, biểu thị bố thí.
 Niệm Phật tội nghiệp tiêu khô.
Như sương tan nắng như hồ nước trong.
Niệm Phật để được tấm lòng.
Kẻo mà trắc ẩn mắc vòng gian nan.
Niệm Phật Cực Lạc hân hoan.
Ta Bà khổ não giàu sang mấy hồi.
Sáu chữ hồng danh trời đất chuyển.
Ba ngàn thế giới hiện toàn chân.
Vấn đáp HT. TỊNH KHÔNGVấn : Tôi bị quỷ ám, vậy phải làm sao?Đáp : Đích thực ở trong quỷ thì bị quỷ ám. Nếu trong lòng thanh tịnh, tâm hạnh lương thiện, quỷ sẽ không dám ức hiếp chúng ta. Quỷ nhìn thấy chúng ta cũng phải tôn kính, ủng hộ. Phàm hễ bị quỷ ám, thì chính mình nhất định cần phải giác ngộ hành vi, tâm địa bất thiện của chính mình. Vì có bất thiện, quỷ mới xem thường, đến ức hiếp chúng ta. Các hành giả niệm Phật, đương nhiên công phu không đến nơi cũng sẽ bị quỷ ám. Người niệm Phật, thường thường niệm Phật, khi gặp phải những tình huống này, tâm liền nghĩ đến Phật hiệu. Nếu gặp trong mộng, hãy niệm Phật, niệm danh hiệu Bồ Tát, quỷ liền rời khỏi lập tức.
 Hãy Sống Trong Thế Giới Biết ƠnHãy biết ơn những người khiển trách ta
vì họ giúp ta tăng trưởng Định Tuệ.
Hãy biết ơn những người làm ta vấp ngã
vì họ khiến năng lực của ta mạnh mẽ hơn.
Hãy biết ơn những người bỏ rơi ta
vì họ đã dạy cho ta biết tự lập.
Hãy biết ơn những người đánh đập ta
vì họ đã tiêu trừ nghiệp chướng cho ta.
Hãy biết ơn những người lường gạt ta
vì họ tăng tiến kiến thức cho ta.
Hãy biết ơn những người làm hại ta
vì họ đã tôi luyện tâm trí của ta.
Hãy biết ơn tất cả những người khiến ta được Kiên Định Thành Tựu.
Người Xưng Danh Hiệu Phật
Được chư Phật mười phương
Tán thán và hộ niệm.
Người Xưng Danh Hiệu Phật
Tiêu muôn vàn tội chướng…
Được Công đức Vô biên…
Người Xưng Danh Hiệu Phật
Là Hoa Phân Đà Lợi
Ngồi Đạo tràng thanh tịnh
Sanh vào nhà chư Phật
Người ngu tự biết mình ngu
Thế là có trí, người xưa dạy rồi,
Ngu mà cứ tưởng khôn thôi
Mới là một kẻ muôn đời thật ngu.Trích Kinh Pháp cú , phẩm Người ngu.
Dù cho có tụng nhiều kinh
Không theo giáo pháp thực hành sớm hôm
Tu hành lợi ích đâu còn
Khác chi một kẻ luôn luôn chăn bò
Chăn thuê nên chỉ âu lo
Ðếm bò cho chủ, sữa bò hưởng đâu?Trích Kinh Pháp Cú , phẩm Song Song.
Vấn đáp HT. TỊNH KHÔNGVấn : Trong nhà có kiến, nếu không phun thuốc thì không cách gì ở được, còn nếu phun thuốc thì mắc tội sát sinh, không biết phải xử lý thế nào?Đáp : Vấn đề này rất nhiều người đang gặp phải. Kiến cũng là động vật, là chúng sinh hữu tình, chúng ta phải dùng thiện hạnh mà đối đãi. Thánh nhân thế xuất thế gian đều khuyên bảo “chân thành có thể cảm thông”. Chúng ta không thể tương thông được với những chúng sinh nhỏ bé này vì thành ý của chúng ta chưa đủ. Thành ý là gì? Tâm thanh tịnh chính là thành ý. Người xưa gọi “một niệm không sinh là thành”, tâm chúng ta có tạp niệm thì không thành, cho nên không thể tương thông được với loài kiến. Nếu như tâm chân thành thanh tịnh mới có thể tương thông, có thể mời kiến dọn nhà. Do đó chính mình phải đoạn ác tu thiện để cảm động được những chúng sinh nhỏ bé này. Xem trong Ấn Quang Đại Sư truyện ký, gian phòng của Ấn tổ những năm đầu cũng có muỗi, bọ chét quấy nhiễu. Thị giả của ngài giúp ngài thanh trừ, lão hòa thượng liền ngăn cản: “không nên, không cần phải thanh trừ”. Thị giả không hiểu liền thắc mắc. Ngài nói: “đức hạnh của chính ta chưa đủ, có chúng ở đây là sự nhắc nhở đối với ta”. Về sau khi lão hòa thượng 70 tuổi, gian phòng của ngài không tìm thấy con muỗi, con bọ nào.
Những động vật nhỏ khi đứng trước người chân chính tu hành, có đức hạnh, có thiện tâm, chúng cũng khởi lòng cung kính và không đến quấy nhiễu. Do đó, tu đức là phương pháp tốt nhất để hóa giải phiền não. Ở Singapore, Mỹ có một số vị đồng tu rất chăm chỉ thử nghiệm, nói với chúng tôi, có hiệu quả rất tốt, cho dù không hoàn toàn hết hẳn nhưng cũng giảm đi được rất nhiều. Điều đó chứng tỏ công phu tu hành của họ có tiến bộ.
Vấn đáp HT. TỊNH KHÔNGVấn : Buổi tối niệm Phật, có lúc phát hiện thường hay có 1 số hiện tượng kỳ quái hoặc là 1 số việc kỳ lạ xảy ra xin hỏi đó là do nguyên nhân gì?Đáp : Có rất nhiều chúng sinh đang tồn tại mà mắt thịt chúng ta không thể nhìn thấy. Chúng sinh ở đường ngạ quỷ, địa ngục, súc sinh; chư thiên cũng thuộc chúng sinh,… Tất cả chúng sinh đều có Phật tính, hay nói cách khác, tất cả chúng sinh trong vô lượng kiếp ở quá khứ hầu như đều đã từng tiếp xúc với Phật pháp. Vậy đã tiếp xúc Phật pháp, tại sao còn có thể đọa lạc vào ác đạo? Vấn đề này mỗi chúng ta hãy tự hỏi chính mình. Gặp Phật pháp nhưng không cố gắng tu hành, đời sau vẫn đọa. Ngạn ngữ có câu “trước cửa địa ngục tăng đạo nhiều”, đã tiếp xúc Phật pháp, cho dù hiểu lý, nhưng không tu hành vẫn không thể kháng lại nghiệp lực, vẫn bị nghiệp lực lôi kéo. Cho nên khi chúng ta niệm Phật hay giảng kinh, có rất nhiều chúng sinh mà mắt thịt không thể nhìn thấy, đều đang ở xung quanh. Số lượng của họ vượt hơn nhiều đại chúng hiện tiền. Người thần khí mạnh sẽ không có cảm giác, vì khi đó vượng khí vượt qua họ. Thế nhưng khi thần khí chúng ta suy, thần khí của họ sẽ vượt qua, chúng ta liền có cảm giác. Cảm giác đó cho biết những người này không phải là ác quỷ, tuyệt đối không làm ác, chúng sinh ác không thể đến được chỗ này. Đạo tràng có thần hộ pháp, đều rất lương thiện, cùng tham gia tu học với chúng ta. Cho nên chúng ta cảm giác có một số quỷ quái đang tồn tại, chúng ta niệm Phật hồi hướng cho họ đồng thời nhắc nhở chính mình. Nếu không cố gắng tu học, tương lai cũng sẽ giống họ. Thực tế quỷ quái hiện tại cũng đang nghe kinh, cũng đang học Phật. Một số Phật tử đến Trung Quốc thọ giới, sau khi trở về kể với chúng tôi, đã gặp quỷ quái nhập thân, nói rõ họ hiện tại ở một số người này đang cùng học Phật, cùng tụng kinh Vô lượng Thọ.
Vấn đáp HT. TỊNH KHÔNGVấn : Tín ngưỡng tôn giáo khác có thể tu tâm thanh tịnh và tâm chí thành không? Có thể thoát khỏi luân hồi không?Đáp : Tín ngưỡng tôn giáo khác cũng có thể được tâm thanh tịnh, cũng có thể được tâm chân thành nhưng không dễ dàng thoát khỏi sáu cõi. Trong kinh Phật giải đáp rất đơn giản, bởi vì chúng ta không mất đi cái “ngã”. Còn “ngã” là còn tự tư tự lợi, tâm tuy thanh tịnh nhưng không thuần tịnh, tâm tuy chân thành nhưng chân thành đó cũng phân ra rất nhiều đẳng cấp. Chúng ta chưa đạt đến đẳng cấp nhất định, cho nên chúng ta tu có thể được thiên đạo, có thể sinh thiên nếu tu tâm thanh tịnh, tu tâm chí thành; có thể đến cõi trời sắc giới, cõi trời sơ thiền, cõi trời nhị thiền, tam thiền, tứ thiền; tâm địa thanh tịnh hơn có thể sinh đến cõi trời tứ thiền nhưng chắc chắn không thể siêu việt sáu cõi luân hồi. Nếu dễ dàng vượt khỏi sáu cõi luân hồi, Thích Ca Mâu Ni Phật nhất định sẽ không đến thế gian. Phật đến thế gian này vì để giúp chúng sinh siêu việt sáu cõi. Rất nhiều tôn giáo nói về vũ trụ nhân sinh, nói được lẽ đương nhiên nhưng không thể nói được lẽ dĩ nhiên của nó. Hãy sơ lược lướt qua kinh luận của các tôn giáo khác sẽ hiểu rõ việc này.
Mỗi năm thêm một tuổi đời
Yếu đau già bệnh theo người gia tăng
Mắt mờ tóc bạc da nhăn
Đứng lên ngồi xuống khó khăn nhọc nhằn
Nói cười sức chẳng còn hăng
Uống ăn lười biếng, ngủ trằn trọc thêm
Trí thời lúc nhớ lúc quên
Thân thời khô héo hom hem lực tàn
Mạng người như chiếc lá vàng
Một cơn gió thoảng dễ dàng rụng rơi
Thân là gốc khổ ai ơi
Phải luôn tỉnh giác thời thời lo tu
Một đời niệm Phật công phu
Muôn đời thoát khỏi ngục tù huyễn thân.
Vấn đáp HT. TỊNH KHÔNGVấn : Thưa pháp sư, trước khi chúng ta tụng kinh, đang tụng hoặc sau khi tụng, có quy củ gì không? có gì cấm kỵ không?Đáp : Không có. Phật là giáo học, không phải tôn giáo. Không có chuyện chúng ta không quy củ thì Phật không vui. Nếu Phật không vui thì ngài đã biến thành phàm phu vì ngài còn khởi tâm động niệm. Cho nên không hề có việc này. Chúng ta có thể tụng kinh bất cứ nơi nào, bất cứ lúc nào, chỉ cần làm cho tâm được an tịnh.
Tuy nhiên, khi mọi người cùng nhau tu học theo nhóm thì cần phải có quy củ. Nếu không quy củ sẽ loạn. Mọi người cùng nhau đọc kinh, vì sao nhất định phải gõ mõ?, đó là để giữ nhịp, giúp mọi người hòa nhịp ăn khớp nhau, người nghe sẽ cảm thấy dễ chịu. Cho nên khi mọi người cùng nhau tụng thì phải có quy củ, còn cá nhân thì tự tại, muốn tụng cách nào cũng được.
 Vấn đáp HT. TỊNH KHÔNGVấn : Thưa pháp sư, có thể chỉ dạy chúng tôi một chút, nếu chúng ta tự tu ở nhà thì nên đọc những kinh văn gì?Đáp : Sơ học nhất định phải từ nơi làm người tốt mà khởi đầu. Những năm gần đây chúng ta ở hải ngoại đề xướng vận động bốn tốt, bảo người “giữ tâm tốt, làm việc tốt, nói lời tốt, làm người tốt”, tiêu chuẩn của cái tốt phải phù hợp với xã hội, có lợi ích cho đại chúng, không vì lợi ích của chính mình. Nếu nghĩ đến lợi ích của chính mình, bỏ qua lợi ích của mọi người trong xã hội thì không đúng. Mỗi niệm vì xã hội, mỗi niệm vì mọi người, chúng ta cũng là một người trong đó. Mọi người được tốt, đương nhiên ta sẽ tốt; ta tốt mà mọi người không tốt thì ta vẫn phải chịu tai nạn, vẫn không cách gì tránh khỏi. Cho nên, đây là tiêu chuẩn tích cực vì xã hội vì mọi người. Ngày xưa đại sư Ấn Quang cả đời cực lực đề xướng “Liễu Phàm Tứ Huấn”, Viên Liễu Phàm là người thời đại triều Minh, bốn thiên văn chương của ông lưu hành ở Đài Loan rất rộng. Ngày trước tôi đã giảng qua tỉ mỉ, cũng có băng đĩa, sách đang lưu hành, các bạn có thể xem, chăm chỉ học tập, trước tiên phải làm người tốt, đây là nền tảng. Sau đó chúng ta đọc kinh mới có thể nhận được kết quả. Về đọc kinh, nếu mọi người chưa tiếp xúc, tốt nhất nên tụng kinh Vô Lượng Thọ. Kinh Vô Lượng Thọ không dài, thích hợp với người hiện đại, lý luận phương pháp cảnh giới trong đó tương đối viên mãn, mọi mặt đều được nói đến, là một bộ sách rất hay
Vấn đáp PS. Tịnh KhôngVấn : Trong học Phật có rất nhiều pháp môn như thiền tông, mật tông, tịnh độ tông. Có người nói rằng “thiền mật song tu”, cũng có người nói “thiền mật tịnh tam tu”. Xin pháp sư cho chúng tôi biết, rốt cuộc nên tu thế nào cho đúng?Đáp : Chúng ta ở trong một đời này, thời gian ngắn ngủi, có được thành tựu rất thù thắng thì cần phải một môn thâm nhập, bởi vì một môn thì tâm của bạn mới dễ dàng tịnh. Bạn học hai thứ, ba thứ nhất định sẽ không bằng người chuyên một môn. Cũng giống như đánh giặc, bạn đem binh lực tập trung đánh vào một điểm sẽ dễ dàng đột phá. Nếu bạn đem nó phân làm ba điểm để tấn công, binh lực của bạn bị yếu, bạn sẽ không thể nào đánh thắng được, đạo lý chính là như vậy. Cho nên tuy có người đề xướng cùng tu hai ba loại, bạn phải tỉ mỉ lắng nghe xem họ nói với người nào, họ có cái khổ bất đắc dĩ gì. Ví dụ nói, “thiền tịnh song tu”, thì nhất định là nói với người tham thiền. Họ không chịu buông bỏ tham thiền, thiền của họ không thể thành tựu, cho nên khuyên họ “thiền tịnh song tu” thì sẽ tốt hơn. Có như thế thì một nửa không thể thành tựu cũng còn một nửa vẫn có hi vọng. Dụng ý của “thiền tịnh mật tam tu” cũng chính như vậy. Do đó người nói lời nói này có cái khổ bất đắc dĩ riêng. Trên thực tế nếu bạn thật nghe theo, nhất định họ sẽ bảo bạn một môn thâm nhập, một môn này là tịnh độ, dễ dàng thành tựu. Thiền cùng mật đều không dễ dàng.
Vấn đáp PS. Tịnh KhôngVấn : Thưa pháp sư, vừa rồi ngài nói đến niệm Phật, rất nhiều nơi đều nghe được âm thanh của tiếng niệm Phật, phổ biến nhất là “Nam Mô A Di Đà Phật”, “Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát”. Niệm những danh hiệu Phật này có hiệu dụng gì?Đáp : Phương pháp tu học của Phật pháp rất nhiều, tám vạn bốn ngàn pháp môn, vô lượng pháp môn. Niệm Phật là một loại trong vô lượng pháp môn đó. Cái hay của pháp môn niệm Phật chính là dễ dàng đơn giản, người người đều có thể tu học, lý của nó rất sâu. Tịnh độ tông chuyên đề xướng niệm A Di Đà Phật, cầu sanh thế giới Tây Phương cực lạc, đương nhiên việc này không thể chỉ mấy câu nói là được rõ ràng, số lượng kinh điển tuy không nhiều nhưng nghĩa lý của nó thì vô cùng phong phú. Ví dụ kinh A Di Đà, mọi người đều rất quen thuộc, luôn cho là kinh đơn giản, dễ dàng, ngày trước tôi đã giảng qua hai lần có băng ghi âm, tổng cộng 335 cuộn. Do đây mà biết, bộ kinh này không đơn giản, nên tôi đã giảng dài đến vậy, có lẽ giảng hết một năm, nhưng vẫn chưa giảng hết ý kinh mà chỉ nói được phần ít, có thể thấy nghĩa lý tịnh tông là không thể nghĩ bàn.
Thế nhưng phương pháp niệm Phật lại đơn giản, bất cứ người nào dù hiểu hay không hiểu lý luận cũng đều được. Người không hiểu lý luận thì cần phải trung thực mà niệm, bạn phải thật tin thật nguyện thì cũng có thể thành tựu. Sự thành tựu này thực tế rõ ràng, rất tốt đẹp, không gì bằng, không những có thể siêu việt sáu cõi luân hồi, mà còn siêu việt mười pháp giới. Các pháp môn khác rất khó mà so sánh, pháp môn này được tất cả chư Phật khen ngợi. Xưa nay ngoài tịnh độ tông ra, tổ sư của các tông phái khác cũng khen ngợi đề xướng, có thể thấy pháp môn này đích thực tối ưu.
Tâm tình của người niệm PhậtBa ơi! Con muốn về nhà!
Niệm Phật, kỳ thật chỉ là một lọai tâm tình rất đơn thuần. Tâm tình khi niệm câu “ Nam Mô A Di Đà Phật” này, thì cũng giống như đứa con đọa lạc liêu lổng nhiều năm, nay muôn quay về nhà, khóc thét lên rằng: “Ba ơi! Con muốn về nhà!” loại tâm tình như vậy .
Ngay Khi đứa trẻ mê lạc, bổng nhiên hối ngộ, khóc thét lên rằng: “Ba ơi! Con muốn về nhà!”, người cha đã nhiều năm chờ đợi mỏi mòn, ngày nhớ đêm mong đứa con của mình, nhất định sẽ vui mừng đến rơi nước mắt, cho dù có liều cái mạng già cũng sẽ toàn tâm tòan lực cứu giúp đứa con, tiếp rước con về nhà, cho con tất cả sự ấm áp nhất tốt đẹp nhất trong nhà.
Đứa con bị bệnh rồi! thất nghiệp rồi! nợ nần chồng chất! Lại cách nhà rất xa! Con đường hiểm ác v.v. những thứ này đều không phải là vấn đề, tất cả những vấn đề khó khăn này, người cha đều sẽ vì đứa con mà lo liệu giải quyết, vấn đề là ở đứa con có chịu trở về nhà hay không mà thôi.Thiện Đạo Đại Sư Ngữ Lục
Cẩn Dịch : Vọng Tây Cư Sĩ
Hỏi đáp HT.Tịnh KhôngVấn: Cha mẹ trong nhà tuổi tác đã lớn lại có chứng bệnh lẫn. Vậy phải làm sao khuyên giải họ đây?Đáp: Việc này phiền phức lắm, bản thân mình nhất định phải đoạn ác tu thiện, tích chứa công đức để hồi hướng cho họ. Bình thường chúng ta hồi hướng, nếu việc hồi hướng không có công đức cụ thể thì việc hồi hướng đó không có công đức. Bạn thấy “Nguyện đem công đức này”, công đức gì đây? Không có công đức thì, việc hồi hướng coi như không, vậy công đức tốt nhất là gì? Là tự mình y giáo phụng hành. Bạn thấy trong kinh Địa Tạng với tấm gương tốt Bà La Môn nữ, Quang Mục nữ, tự thân Bà thật sự tu, thật sự hạnh, Bà làm như thế thật sự có công đức, rồi bà đem công đức đó hồi hướng. Còn chúng ta chỉ có niệm mấy câu kinh thì không lợi ích gì. Bạn thấy Bà La Môn nữ ở trong định thấy Quỷ Vương nói với Bà rằng: Mẹ của bà lên Trời rồi, nghĩa là sao? Chúng ta đọc trong kinh thấy, tuy thời gian bà niệm Phật chỉ có một ngày, một đêm nhưng một ngày, một đêm đó Bà niệm đến nhất tâm bất loạn nên Quỷ Vương gọi Bà là Bồ Tát. Nếu như Bà không đạt được cảnh giới đó thì Bà không thể thấy Địa Ngục, chỉ có Bồ Tát mới có thể thấy được. Bạn phải hiểu được sự chân thành của cái tâm này. Tâm chân thành trong kinh A Di Đà gọi là: hoặc một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày… chỉ trong một ngày một đêm mà Bà có thể đạt đến chuyển phàm thành Thánh, rồi đem công đức này hồi hướng cho cha mẹ mình giúp cho mẹ Bà được sanh thiên. Chuyện của Quang Mục ở trong cảnh giới mộng, sức tu tập, ở trong cảnh giới mộng hơi kém một chút. Thông thường chúng ta gọi công phu tu tập của Bà là công phu thành phiến. Bà chưa được nhất tâm, được nhất tâm mới thật sự là Bồ Tát, công phu của Bà là thành phiến nên mẹ của Bà vẫn phải sanh lại nhân gian, sanh trong gia đình hạ tiện, thọ mạng 13 tuổi rồi lại chuyển kiếp, Bà không có sự thù thắng như mẹ của Bà La Môn nữ vậy. Đó là do công phu của Bà chưa đạt đến. Qua đây nếu bạn muốn hồi hướng thì bạn phải có công đức chân thật. Nếu không có công đức chân thật thì bạn lấy gì để hồi hướng đây? Điều này rất quan trọng, cho nên lòng dạ phải chân thành nhất định không có chút xíu nào giả dối. Tâm chân thành, tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng. Nếu chúng ta chuyển ý niệm thì thật sự công đức vô lượng. Nghĩa là phải thật sự chuyển ý niệm. Từ đây về sau vì chánh pháp, vì phổ độ chúng sanh khổ nạn, để phục vụ cho họ, tuyệt đối không vì bản thân thì công đức này thật sự là lớn, nếu như vẫn còn tự tư, tự lợi, vẫn còn tham, sân, si, mạn thì không được, như vậy dù bạn làm thế nào đi nữa thì đừng nói đến công đức, chỉ có chút xíu phước đức thôi. Về phước đức trong “Lục Tổ Đàn Kinh” có dạy, phước đức không cứu nổi chuyện này. Trong Đàn Kinh nói là việc này là sanh tử, là việc lớn. Phước đức không giải quyết được, phải là công đức. Công đức nghĩa là chuyển toàn bộ ý niệm.
Chân tướng của người niệm Phật không được vãng sanh.Thiện Đạo Đại Sư Ngữ Lục
Cẩn dịch: Vọng Tây cư sĩNgay trong một ngàn người niệm Phật thì có hơn chín trăm chín mươi chín người giả niệm Phật , đây chính là chân tướng vì sao niệm Phật không thể vãng sanh.Thường ngày chúng ta niệm Phật, tâm miệng không đồng nhau, giả tín hư nguyện, trong tâm luôn quyến luyến vướng bận, tuyệt đối chẳng phải vì việc lớn sanh tử, mà chỉ là tất cả lợi ích thế gian; khi vừa đến cửa cải sanh tử, thì nhìn không thấu, buông bỏ không được, lo lắng đầu này, dính mắc đầu kia, nhưng tuyệt nhiên không cầu chết, tuyệt đối không hề cầu chết sớm một chút, để sớm ngày vãng sanh.Cho nên, tuyệt đại đa số người niệm Phật đem của báo giá trị liên thành, chỉ để đổi thành một cục đường. Do đó niệm Phật chỉ thành phước báo trời người, tạo thành oan nghiệp cho đời thứ ba, mãi mãi ở trong luân hồi, chịu khổ không cùng.
Hỏi đáp HT.Tịnh KhôngVấn: Một số người không cách gì khống chế được suy nghĩ của mình. Thưa pháp sư, có phải có những phương pháp ngoại lực, ví dụ niệm niệm kinh văn gì đó giúp họ cởi mở chính mình, vậy nên đọc những kinh gì?Đáp: Hiện tượng này rất phổ biến, trong ngoài nước đều đã thấy qua, nguyên nhân chủ yếu Phật pháp gọi là “tập khí của họ quá sâu, phiền não quá nặng”. Dù có hiểu được đạo lý, khi cảnh giới xuất hiện họ vẫn không thể khắc phục, vẫn không thể chuyển đổi nó. Phương pháp của Phật pháp rất nhiều, nếu phiền não khởi lên, tâm không bình, muốn làm cho tâm định lại, bạn nên mở quyển kinh, chăm chỉ đọc qua một lượt, háo hức dần dần liền ổn định. Cho nên dùng phương pháp đọc kinh cũng được, trì chú cũng được, niệm Phật cũng được. Thậm chí không dùng những phương pháp này bạn có thể dùng phương pháp thế gian. Bạn vốn thích nghe nhạc, chỉ cần mở vài khúc nhạc cổ điển rồi chuyên chú lắng nghe, tâm cũng có thể bình lại. Do đó phương pháp không cố định, bạn xem phương pháp nào có hiệu quả đối với mình thì có thể vận dụng nó. Tóm lại, bình lặng vọng tưởng phân biệt là việc trọng yếu, đây là then chốt quan trọng trong tu hành của chúng ta.
Hỏi đáp HT.Tịnh KhôngVấn: Pháp sư! Một số người cho rằng, mình chỉ cần làm người tốt thì được, hà tất phải đi học Phật. Học Phật đối với cá nhân mỗi người chúng ta rốt cuộc có cái gì tốt? Tại sao nhất định phải học Phật?Đáp: Việc này lại là một hiểu lầm, vừa rồi tôi nói, nên có một hiểu biết tương đối, học Phật là học làm người minh bạch. Tôi làm người tốt, hà tất phải đi làm người minh bạch? hà tất phải biết chân tướng của vũ trụ nhân sanh, làm người tốt là được rồi? Với cách nói như vậy, bạn liền có được đáp án, nhất định phải làm một người minh bạch mới là người tốt viên mãn. Bạn tuy là người tốt, nhưng người tốt của bạn không viên mãn, còn khiếm khuyết rất nhiều. Nếu bạn có định huệ có thể làm người minh bạch, bạn mới là người tốt viên mãn. Còn người tốt thông thường chỉ là người tốt phổ thông mà thôi, không viên mãnHỏi đáp HT.Tịnh KhôngVấn: Quy y một vị, thân cận một vị pháp sư thì tốt, hay quy y càng nhiều càng tốt?Đáp: Đây là quan niệm hoàn toàn sai lầm. Quy y không có một vị pháp sư, cũng không có rất nhiều pháp sư. Quy y ở đây chỉ là đem tổng cương lĩnh, tổng nguyên tắc tu học của Phật giáo truyền thụ cho bạn. Quy y là quy y tự tánh Tam Bảo, không phải quy y người bên ngoài, thậm chí cho đến Phật Thích Ca Mâu Ni cũng không liên quan. Bạn nói: “Tôi quy y Phật Thích Ca Mâu Ni” là sai lầm lớn, làm gì có đạo lý này. Phật Thích Ca Mâu Ni không hề nói “Ngươi phải quy y ta”. Phật dạy bạn phải quy y tự tánh giác của bạn. Giác chính là Phật Bảo, cho nên ý nghĩa của Phật là ý nghĩa của sự giác ngộ. Quy y Phật là giác ngộ, nói cách khác, bạn phải nương vào lý trí, không nên y theo tình cảm mà làm việc. Lý tánh là giác, cảm tình là mê. Bảo bạn quy y Phật là dạy bạn đối nhân xử thế tiếp vật ngay trong cuộc sống thường ngày, phải dùng lý tánh không nên dùng tình cảm.
Thử nghĩ xem, cái lý tánh này cùng với cảm tình, cùng với Phật, với pháp sư có quan hệ gì? Không hề quan hệ. Nếu chúng ta nói quy y một người nào đó, vậy thì sai lầm. Con người, cụ thể vị lão sư chỉ đại diện cho tăng đoàn để truyền thụ Tam Quy cho chúng ta. Chúng ta quy y toàn thể tăng đoàn, vị thiện tri thức nào cũng là lão sư của ta, không nên nhận riêng một người, như thế, cái tâm lượng của bạn mới rộng lớn, phân biệt chấp trước của bạn mới có thể đột phá ra được, bạn mới có lợi ích chân thật.
Thế còn học pháp thì sao? Nhất định phải học với một vị lão sư. Một lão sư dạy bạn một con đường, hai lão sư thì biến thành hai con đường, hoặc ba vị lão sư thì ngã ba đường, bạn đâm ra lúng túng, không biết đi đường nào. Cho nên tu học ban đầu, Nho và Phật đều dạy chỉ nên theo một lão sư, học lời của một người. Đến khi trí tuệ của bạn khai mở, bạn có năng lực phân biệt chân vọng, phân biệt thị phi, tà chánh, vị lão sư liền vui mừng, nhất định sẽ để bạn đi tham học. Còn chưa có năng lực, khi bạn vừa tiếp xúc, phiền não liền khởi, bạn không biết bắt đầu đi từ đâu, lúc này lão sư nhất định bảo hộ bạn, không để bạn ra ngoài. Họ phải bồi dưỡng bạn, đấy mới là lão sư có tinh thần trách nhiệm cao

Tự hành hoá tha

 

Chư cổ đức thường nói : « Phát bồ đề tâm nhất hướng chuyên niệm câu A Di Đà Phật là một pháp môn vô cùng thù thắng, mau chóng và chắc chắn ». Mau chóng ở chỗ nào ? Trong Quán kinh nói thị tâm thị Phật, có nghĩa tâm này tức là Phật. Thị tâm thị Phật, có nghĩa tâm này làm Phật.

Hai câu này vô cùng quan trọng, và gồm thu vô lượng vô biên các pháp môn mà chư Phật đã nói. Thị tâm thị Phật, nói về Lý, nghĩa là tất cả chúng sanh đều có tâm, tâm của chúng sanh hữu tình là Phật tâm. Còn tâm của chúng sanh vô tình thì gọi là pháp tâm. Phật tâm và pháp tâm là một, chẳng phải hai. Thế nhưng một tâm sao lại biến thành hai hình tướng khác nhau ? Bởi vì một bên có tư có tưởng nên trở thành hữu hình. Ngược lại, thì biến thành vô tình chúng sanh.

Trong Pháp Tướng Tông nói rất rõ : « Tất cả chúng sanh bản lai là Phật ». Vậy nguồn gốc đã là Phật, hiện giờ lại phát tâm niệm Phật, làm Phật, có lý nào lại không thành Phật ! Do đó vấn đề then chốt để làm Phật là phải niệm Phật, vì niệm Phật là phương pháp chính yếu, phương pháp trực tiếp. Câu hỏi đặt ra là vì sao bảo chúng ta niệm Phật A Di Đà, mà không niệm danh hiệu các vị Phật khác ? Chúng ta đọc kinh Vô Lượng Thọ sẽ thấy rõ ràng là A Di Đà Phật là Quang Trung Chí Tôn, Phật Trung Chi Vương. Một vị Phật vĩ đại với quả đức vô cùng mỹ mãn cứu cánh và thiết thực, mà tất cả mười phương chư Phật đều đồng thanh tán thán.

Thưa quý vị, tất cả pháp đều do tâm nghĩ tưởng đến Phật A Di Đà, niệm Phật A Di Đà, chúng ta sẽ là Phật A Di Đà. Lý do khuyên bảo quý vị không nghĩ tưởng điều gì ngoài sự nhất tâm chuyên niệm A Di Đà Phật là như vậy.

Hơn nữa trong kinh Đại Tạng đã nói rất rõ ràng đầy đủ là « nhất giải nhất thiết giải » . Nghĩa là khi ta niệm một danh hiệu Phật A Di Đà, là niệm đủ mười phương ba đời tất cả chư Phật, do đó đừng lo ngại hay phân biệt, chấp trước rằng, niệm Phật này là bỏ Phật kia. Không phải thế !

Sau khi chúng ta đã nhận định rõ ràng sự thật được rồi, kế tiếp là phải vững tâm bền chí dũng mãnh dựa vào Phật thất trong niệm Phật đường. Phương pháp thường được nhắc đến trong niệm Phật đường là tự hành hoá tha, nghĩa là tự mình tu hành và lợi lạc độ cho người khác, do đó phải vào niệm Phật đường, cần phải cùng nhau tu tập.

Pháp Sư Tịnh Không khai thị Pháp Môn Tịnh Độ

Rộng mở tâm lượng

Trong việc tu học Phật pháp, muốn tự nâng cao cảnh giới của chính mình, có rất nhiều phương pháp. « Mở rộng tâm lượng » là một trong các phương pháp đó.

Trong đại thừa kinh điển, chúng ta thấy các vị pháp thân đại sĩ, tức là những người đã minh tâm kiến tánh, tâm lượng của các ngài rộng lớn như hư không, bao trùm cả pháp giới, vì thế, cái nhìn của các ngài đối với tất cả chúng sanh trong hư không và khắp pháp đều bình đẳng. Thế nào là bình đẳng ? Vô niệm là bình đẳng, còn có niệm là không bình đẳng. Phật trụ vô niệm.

Trong Kinh Kim Cang có câu : « Ưng vô sở trụ, sở trụ vô trụ » . « Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm », vô trụ tất cả là Phật trụ, mà vô trụ là vô niệm.

Chúng sanh trong chín pháp giới còn có chỗ để trụ. Ví như :

  • Chư Bồ Tát trụ ở cảnh giới Lục Độ.
  • Duyên Giác trụ ở Nhân Duyên.
  • Thanh Văn trụ ở Tứ Đế.
  • Ngạ quỷ ở cảnh giới Tham.
  • Địa ngục trụ nơi Sân.
  • Súc sinh trụ ở cảnh Si Mê.

Tâm của tất cả chúng sanh nầy đều còn chỗ để trụ, để dính mắc. Nói cách khác là tâm của chúng ta như thế nào, thì cảnh giới của chúng ta như thế đó.

Phàm phu chúng ta muốn trụ nơi cảnh giới vô trụ của Phật, là điều không thể đạt được. Tuy nhiên, Phật thường dạy cho chúng ta một phương pháp vô cùng thù thắng và tiện lợi, để có thể dự vào cảnh giới vô trụ của các ngài. Đó là pháp môn niệm Phật.

Bồ Tát trụ ở nơi lục độ ; chúng ta trụ nơi Phật trụ. Như vậy chúng ta được nâng cao hơn đẳng cấp của Bồ Tát, thế nhưng, tiếng niệm Phật của chúng ta phải tương ưng. Thế nào gọi là tương ưng ? Mỗi một tiếng niệm Phật, chúng ta phải trải lòng từ bi của mình đến với tất cả chúng sanh trong hư không và lan rộng đến khắp pháp giới. Mỗi tiếng niệm Phật đều vì lợi ích chúng sanh, đều mang lòng ban vui cứu khổ đến cho mọi loài.

Có người hỏi : « Tiếng niệm Phật của chúng ta thực tế có lan rộng đến hư không khắp pháp giới hay không ? » Khẳng định là được !

Trong kinh Phật nói : « Tướng không rời tâm, tâm không rời tướng ». Cái chân tâm của chúng ta, nguyên gốc của nó rộng khắp hư không, trùm khắp pháp giới. Sở dĩ tiếng niệm Phật của chúng ta không hoà nhập vào với hư không, là vì chúng ta còn nhiều vọng tưởng, phân biệt và chấp trước làm chướng ngại bản năng tự nhiên của mình. Nếu âm ba của tiếng niệm hoà nhập với âm ba của tâm, tức chân tâm lan rộng vào hư không, tiến sâu vào khắp các pháp giới, cho dù chư Phật thuyết pháp ở xa xôi, bất luận nơi nào, một khi tâm đã lắng động, không còn chướng ngại chúng ta vẫn có thể nghe được âm thanh lời pháp của các ngài rõ ràng, vì tâm từ bi của các ngài luôn trải rộng đến cõi Ta Bà này của chúng ta, cũng như chúng sanh ở các pháp giới khác. Đây là sự thật, không hề hư dối.

Vậy thì âm ba của Phật có thể rộng khắp, âm ba phàm phu của chúng ta cũng có thể rộng khắp, cho nên mở rộng tâm lượng trong pháp môn niệm Phật là một phương pháp rất vi diệu, rất đặc biệt thù thắng, có thể khiến phàm phu trong một kiếp được bình đẳng, được thành Phật.

Người thật sự biết niệm Phật, sự lợi ích, niềm an lạc mà họ đạt được, phàm phu chúng ta không thể nào hiểu thấu, mà họ cũng không thể giải thích rõ cho chúng ta, vì có giải thích, chúng ta cũng không hiểu. Giống như ai uống nước, tự người đó biết nóng hay lạnh, mùi vị ngọt đắng ra sao vậy. Nguyên tắc thuyết pháp của chư Phật cũng thế ! Những điều chúng sanh có thể hiểu được, các ngài mới nói ; nếu không hiểu được, tuyệt đối đều không nói.

Tóm lại, công phu niệm Phật có đắc lực hay không, chúng ta có thể thấy biết qua cảnh giới tâm lượng và sắc tướng của người đó.

Một khi công phu niệm Phật đắc lực rồi, chắc chắn trên gương mặt của chúng ta sẽ luôn tỏ ra niềm vui an lạc tự tại, trong đạo Phật gọi là pháp hỷ sung mãn.

Chúng ta đọc kinh sách thường nghe những người tu hành chứng quả A La Hán, là hàng thánh đạt tới mức chánh định, thân tâm an ổn, không còn thối chuyển. Tất cả những người do công phu thiền định mà tâm không ô nhiễm chuyện buồn lo, thân xa lià cảnh vui khổ của thế gian, đều được chứng nhập vào cảnh giới tam ma địa, tức là cảnh giới không còn sanh diệt. Phàm phu chúng ta nếu còn một phẩm vô minh chưa dứt đoạn muốn chứng vào cảnh giới cao cấp này, chỉ còn cách nương theo pháp môn tiện lợi nhất, đó là niệm Phật cầu sanh Tịnh độ.

Hỏi đáp _ Pháp Sư Tịnh Không

Vấn: Thưa pháp sư, vừa rồi ngài nói, không sát sanh có phải ý nói, khi chúng ta học Phật thì nhất định phải ăn chay không?

Đáp: Không nhất định như vậy, việc này không bắt buộc. Thế nhưng ăn chay đối với đời sống là rất tốt. Tôi học Phật cũng không có người nào bảo tôi ăn chay, thế nhưng tôi học Phật được sáu tháng thì tôi bắt đầu ăn chay. Lúc nhỏ tôi đi học, có một số bạn học là tín đồ Hồi giáo thuần thành, họ rủ tôi đến Thanh Chân Tự hiểu được một số lễ nghi của họ. Họ rất chọn lựa trong việc ăn uống, không chỉ chú trọng vệ sinh, bảo vệ sinh lý mà còn bồi dưỡng tánh tình. Họ nói tánh tình tốt xấu có quan hệ với thức ăn chúng ta ăn vào. Tôi hiểu được điểm này, tánh tình có thể ảnh hưởng chính mình, những vật có tính không tốt, thì họ đều không ăn.
Về sau học Phật, Phật giáo nói ăn chay, ăn chay có thể nuôi dưỡng tâm từ bi. Tôi liền nghĩ tới ẩm thực có vệ sinh, vệ tánh, vệ tâm. Từ khai thị này, tôi tự nhận được sự nhắc nhở và liền ăn chay. Năm hai mươi sáu tuổi tôi bắt đầu ăn chay, đến nay hơn bốn mươi năm, thân thể ngày càng khỏe mạnh, phần đông không đoán ra tuổi của tôi. Năm trước bác sĩ trong bệnh viện đo huyết áp, họ nói với tôi rằng, huyết áp của tôi và màu sắc của máu không khác gì người ba mươi tuổi. Đây là điểm tốt của trường chay. Cho nên ăn chay đối với sức khỏe thân thể là tốt tuyệt đối, lại thêm tâm thanh tịnh không ô nhiễm, bất cứ việc gì của thế gian đều buông bỏ là được. Sở dĩ tôi không xem tivi, không nghe phát thanh, cũng không xem báo chí, để được trải qua những ngày tháng tốt đẹp, thiên hạ thái bình. Khi xem ti vi, bạn thấy cái này cái kia, thiên hạ sao mà hỗn loạn đến như vậy, lộn xộn lung tung, lúc đó bạn sẽ khổ không nói ra lời, chúng ta hà tất phải trải qua tháng ngày như vậy? Cho nên xả bỏ tất cả, mỗi ngày đọc kinh, cùng hàng với Phật Bồ tát, cùng làm bạn với người xưa, nghĩ xem đời sống này tự tại an vui dường nào.

KHAI THỊ HÒA THƯỢNG TỊNH KHÔNG

Phát tâm bồ đề 

 

Nếu chúng ta muốn ngay trong một kiếp này thật sự thành tự được công phu niệm Phật, thì lúc sử thế tiếp xúc với người và vật, cái tâm duy nhứt mà chúng ta cần phải có đó là chân tâm.

Khi bị người khác lừa dối hiếp đáp, chúng ta phải nghĩ như vầy : Đó là chuyện của họ, không dính dáng gì tới tôi cả. Việc của tôi là phải dùng tâm chân thật để đối xử lại. Vì sao ? Bởi vì tôi quyết định trong một kiếp này cầu vãng sanh Tịnh độ. Làm thế nào để cầu sanh Tịnh độ ? Trong Kinh Vô Lượng Thọ nói rất rõ : « Phát bồ đề tâm nhất hướng niệm Phật ». Nếu chúng ta không phát bồ đề tâm, chỉ nương vào nhất hướng chuyên niệm, kết quả không vãng sanh. Điều này chúng ta nên thận trọng.

Ngài Lý Bỉnh Nam nói : « Một vạn người niệm Phật, thật sự vãng sanh chỉ có vài, ba người ». Vì sao số người vãng sanh quá ít như vậy ? Vì không phát tâm bồ đề, nên tâm không thanh tịnh. Bởi tâm không thanh tịnh nên còn thị phi, nhân ngã, tham, sân, si, mạn, nghi. Những thứ này không tương ứng với thế giới Cực Lạc một chút nào. Tây phương Cực Lạc là nơi tụ hội của chư thượng thiện nhân, tức là chỗ của những người thiện lành bậc nhất. Cho dù chúng ta niệm Phật rất siêng năng đến đâu, hoặc một ngày có thể niệm đến trăm ngàn lần, nhưng tâm của chúng ta không thiện, làm sao có thể lên Tây phương ở cùng chỗ của các bậc thượng thiện nhân ?

Do đó phát bồ đề tâm quan trọng hơn cả việc nhất tâm chuyên niệm là như vậy. Người thật sự phát bồ đề tâm, khi lâm chung một niệm hoặc mười (10) niệm, quyết định sẽ được vãng sanh. Vì sao ? Vì họ đã là thượng thiện nhân rồi, đầy đủ phước đức rồi, chỉ cần chợt khởi tâm muốn vãng sanh là được ngay.

Cho nên những lời nói trong kinh điển chúng ta phải hiểu lý, suy nghĩ kỹ lưỡng, tuyệt đối không nên tụng niệm một cách hàm hồ.

Đoạn văn trên, chúng ta nói đến chân tâm. Chân tâm là thể của bồ đề tâm. Kế tiếp nói đến thâm tín là dụng của bồ đề tâm. Tự dụng đối với chính mình là luôn giữ tâm hiền thiện hiếu đức, tức là thích làm điều thiện. Đối với chúng sanh thì đại từ đại bi, nhân từ hiền thiện. Hiếu đức là việc làm không thể miễn cưỡng, hoặc làm cho có hình thức bên ngoài, mà nó phải lưu xuất một cách tự nhiên từ bên trong. Cho nên người phát tâm bồ đề, mỗi khi khởi tâm động niệm đều nghĩ đến việc làm lợi ích cho chúng sanh. Nghĩ đến việc giúp đỡ phá mê khai ngộ, thoát khỏi cảnh khổ, được an vui, không hề có một niệm nghĩ đến lợi ích cho cá nhân mình, Nếu còn một niệm ích kỷ tự lợi là còn ngã chấp nặng nề. Ngã chấp là gốc rễ của lục đạo luân hồi. Không bứng sạch gốc rễ này thì không cách nào ra khỏi lục đạo. Cho nên ngay từ bây giờ, chúng ta cần phải buông xả. Phải nghĩ tới người khác, nghĩ tới chúng sanh, đến những người đang đau khổ, đang gặp nạn trên thế giới. Tuyệt đối không nên nghĩ đến chuyện lợi ích cho riêng cá nhân mình nữa.

Trong suốt thời gian thuyết pháp đã qua, tôi nhiều lần nhắc quý vị phải phát bồ đề tâm. Trong kinh điển, đức Thế Tôn cũng từng lập đi lập lại không biết bao nhiều ngàn lần, vì sao Thế Tôn không ngừng lập lại như vậy ? Bởi vì chúng sanh vẫn còn chưa thức tỉnh, vẫn còn u mê, cho nên Thế Tôn vẫn phải lập đi lập lại một cách không mệt mỏi để kêu gọi, thức tỉnh chúng ta. Một khi chúng ta phát khởi bồ đề tâm liền được chư Phật hộ trì, vì tâm của chư Phật là tâm bồ đề. Tóm lại, như vậy tâm của chúng ta, cùng tâm chư Phật, không hề khác nhau, và mục đích duy nhất của Ngài là mong chúng ta một đời có thể thành Phật.

Vấn đáp HT. TỊNH KHÔNG

Vấn : Buổi tối niệm Phật, có lúc phát hiện thường hay có 1 số hiện tượng kỳ quái hoặc là 1 số việc kỳ lạ xảy ra xin hỏi đó là do nguyên nhân gì?

Đáp : Có rất nhiều chúng sinh đang tồn tại mà mắt thịt chúng ta không thể nhìn thấy. Chúng sinh ở đường ngạ quỷ, địa ngục, súc sinh; chư thiên cũng thuộc chúng sinh,… Tất cả chúng sinh đều có Phật tính, hay nói cách khác, tất cả chúng sinh trong vô lượng kiếp ở quá khứ hầu như đều đã từng tiếp xúc với Phật pháp. Vậy đã tiếp xúc Phật pháp, tại sao còn có thể đọa lạc vào ác đạo? Vấn đề này mỗi chúng ta hãy tự hỏi chính mình. Gặp Phật pháp nhưng không cố gắng tu hành, đời sau vẫn đọa. Ngạn ngữ có câu “trước cửa địa ngục tăng đạo nhiều”, đã tiếp xúc Phật pháp, cho dù hiểu lý, nhưng không tu hành vẫn không thể kháng lại nghiệp lực, vẫn bị nghiệp lực lôi kéo. Cho nên khi chúng ta niệm Phật hay giảng kinh, có rất nhiều chúng sinh mà mắt thịt không thể nhìn thấy, đều đang ở xung quanh. Số lượng của họ vượt hơn nhiều đại chúng hiện tiền. Người thần khí mạnh sẽ không có cảm giác, vì khi đó vượng khí vượt qua họ. Thế nhưng khi thần khí chúng ta suy, thần khí của họ sẽ vượt qua, chúng ta liền có cảm giác. Cảm giác đó cho biết những người này không phải là ác quỷ, tuyệt đối không làm ác, chúng sinh ác không thể đến được chỗ này. Đạo tràng có thần hộ pháp, đều rất lương thiện, cùng tham gia tu học với chúng ta. Cho nên chúng ta cảm giác có một số quỷ quái đang tồn tại, chúng ta niệm Phật hồi hướng cho họ đồng thời nhắc nhở chính mình. Nếu không cố gắng tu học, tương lai cũng sẽ giống họ. Thực tế quỷ quái hiện tại cũng đang nghe kinh, cũng đang học Phật. Một số Phật tử đến Trung Quốc thọ giới, sau khi trở về kể với chúng tôi, đã gặp quỷ quái nhập thân, nói rõ họ hiện tại ở một số người này đang cùng học Phật, cùng tụng kinh Vô lượng Thọ.

Hỏi đáp _ Pháp Sư Tịnh Không

Vấn: Vừa rồi pháp sư nói đến bố thí là buông bỏ phiền não, buông bỏ tạp niệm trong tâm, đây dường như là chính mình độ chính mình, vậy có nói đến chúng ta độ người hay giúp đỡ người hay không? có những loại bố thí gì?

Đáp: Giúp đỡ người khác có tài bố thí, pháp bố thí, vô úy bố thí, gom lại thành ba loại lớn. Tài là chúng ta có dư. Người biết trải qua ngày tháng đời sống tuyệt vời nghĩa là họ tự tại. Không nhất định bạn phải giàu có, hào hoa, chỉ cần bạn tự tại, an vui là đời sống của bạn đã rất mỹ mãn. Chúng ta chỉ cần đủ cơm áo thì tự tại, hà tất phải quá dư. Chỉ cần ăn no mặc ấm, có một căn phòng ngăn gió mưa, thân tâm an ổn. Nếu có dư, chúng ta giúp đỡ người khác, lấy việc giúp người làm vui, phải nhiệt tâm chủ động đi giúp đỡ tất cả mọi người cần được giúp. Giúp đỡ vật chất thuộc về tài bố thí, bố thí không nên dính mắc trong lòng. Nếu tính toán mình đã làm được bao nhiêu việc tốt thì sự tính toán đó chỉ mang lại phước thông thường, không thể sanh trí tuệ. Khi đã bố thí, lòng trong sạch, không lưu lại tí gì, đây là chân thật công đức thành tựu định, huệ của bạn.
Pháp bố thí là khi chúng ta có trí tuệ, có kỹ năng, chúng ta đem trí tuệ kỹ năng của mình truyền thụ cho người khác. Ví dụ chúng ta từ công tác giáo học của Phật đà, mỗi ngày đem những đạo lý này giảng giải cho người thông thường nghe, để họ hiểu, họ giác ngộ, đây thuộc về pháp bố thí. Trong loại bố thí này, nhất định không có báo đáp. Rất nhiều đồng tu biết, những băng đĩa giảng kinh của tôi cho đến tất cả vật xuất bản, thảy đều không có bản quyền. Không có bản quyền chính là bố thí, ai đem đi in hay lưu thông cũng đều tốt, chỉ cần có lợi ích cho xã hội. Nếu ghi có sở hữu bản quyền thì không còn gọi là bố thí nữa mà trở thành làm ăn buôn bán. Cho nên chỉ cần chúng ta nhiệt tâm giúp đỡ xã hội, tuy đã làm, tâm vẫn thanh tịnh, tiêu diêu tự tại, không nên để trong tâm.
Vô úy bố thí là giải quyết khổ nạn của chúng sanh. Chúng sanh có nỗi lo sợ, thân tâm bất an, chúng ta giúp đỡ họ, khiến cho họ thân tâm an ổn, cái này thuộc về vô úy bố thí. Phật nói, quả báo của vô úy bố thí là được khỏe mạnh sống lâu, pháp bố thí được thông minh trí tuệ, tài bố thí được tiền tài. Người thế gian đều muốn có tiền của, thông minh trí tuệ, khỏe mạnh sống lâu, nhưng họ lại không biết cách tu nhân, thế nên những suy nghĩ này đều biến thành vọng tưởng, cứ đi cầu Phật Bồ tát bảo hộ nhất định không thể đạt được gì.

Pháp ngữ HT Tịnh KHôngCông phu niệm Phật chân thậtBạn có thể thành tựu hay không, không thể trách người khác cũng không thể trách hoàn cảnh, bạn chân thật nghĩ thông, nghĩ thấu suốt rồi, việc của chính mình chính mình có chịu làm hay không? Cho nên không luận là chướng ngại nơi hoàn cảnh, chướng ngại nơi nhân sự, đều không ở bên ngoài, chướng ngại chân thật là chính mình, người ngoài không thể chướng ngại được! Công phu niệm Phật của bạn Tâm Tâm Nối Nhau, Niệm Niệm Không Gián Đoạn, nếu như người ta chán ghét bạn, bạn niệm thầm, vẫn cứ là không gián đoạn.Nếu như là người khác tán thán bạn, bạn sanh tâm hoan hỉ, người khác huỷ báng bạn, bạn sanh tâm oán hận, liền phá hư đi hết thảy công phu niệm Phật của bạn, tán thán bạn A Di Đà Phật! Huỷ báng bạn A Di Đà Phật! Nhục mạ bạn A Di Đà Phật! Thảy đều là A Di Đà Phật! Hay nói cách khác không luận là hoàn cảnh là nhân sự, đều là giúp bạn, thành tựu cho bạn, vì sao vậy? sau khi bạn tiếp xúc được thảy đều là một câu A Di Đà Phật. Trong miệng A Di Đà Phật, trong tâm A Di Đà Phật thì bạn liền thành tựu, bạn niệm đến sau cùng đem mọi người đều xem thành A Di Đà Phật, con người ức hiếp bạn là A Di Đà Phật, con người đánh bạn cũng là A Di Đà Phật…Tất cả đều nghĩ là ta công phu chưa đủ, ta còn giải đãi, ta vẫn chưa có thành tựu, Phật đến đánh ta, Phật đến mắng ta, cái tâm đó là tâm Phật.
Khai thị của Hòa Thượng Tuyên Hóa.Khi Người Ta Không Thích Quý VịTrong khi tu Đạo, thỉnh thoảng quý vị có thể thấy quý vị không thể tìm thấy được Đạo, quý vị không biết làm thế nào để tu tập. Quý vị có thể gặp ngã ba đường và quý vị không biết đường nào để đi. Lúc đó quý vị cần phải có trí huệ và định lực. Quý vị cũng phải giữ giới.
Khi quan hệ giao tiếp với người, thỉnh thoảng quý vị có thể rất tốt với một số người, nhưng họ ngược lại không thích quý vị dù quý vị tử tế với họ. Quý vị càng tốt với họ, họ sẽ càng tệ bạc với quý vị. Khi hoàn cảnh này xãy ra, quý vị phải buông bỏ sự dích mắc của quý vị. Sự dính mắc nào? Sự dính mắc muốn đối xử tốt với người khác! Khi quý vị càng tốt với người khác, họ càng tệ bạc với quý vị, họ chính là thiện tri thức “nghịch duyên” của quý vị. Họ đang giúp quý vị học cách buông bỏ khi nghịch duyên xãy đến. Điều này dựa vào kinh nghiệm tu tập của chính tôi. Trên mỗi bước chân trên con đường tu tập, tôi đã từng phải đương đầu với các kiểu đối xử tệ hại và thử thách như thế này. Các kiểu đối xử tồi tệ và thử thách này xãy đến chỉ để xem quý vị sẽ tiếp tục tiến lên hay quý vị sẽ thối lui. Nếu quý vị thật sự hiểu chúng, lúc đó trong các cảnh giới thuận duyên hay nghịch duyên, quý vị cũng sẽ đều tinh tấn như nhau. Có câu nói rằng:
Nếu ý tưởng bạn không thành hiện thực,
Hãy nhìn lại chính mình.
Nếu bạn tử tế với người khác nhưng họ không đền đáp lại,
Hãy nhìn lại sự tử tế của mình.
Nếu bạn ra lệnh người, nhưng họ không phục tùng
Hãy nhìn lại mệnh lệnh của mình.
Nếu bạn tôn kính người, nhưng người không tôn kính bạn
Hãy xem lại tư cách của chính mình.
Giả sử quý vị rất tốt với ai đó, nhưng họ không muốn gần gũi quý vị. Trong trường hợp này, quý vị phải hồi quang xem coi sự tử tế của quý vị có thật sự là tử tế hay không. Nếu đó là sự tử tế thật sự, dần dần quý vị sẽ ảnh hưởng họ để họ trở thành người tốt. Nếu người ta không nghe theo sự chỉ bảo của quý vị, quý vị hãy hồi quang và nghĩ, “Có thể do mình áp đặt quá nhiều quyền lực vào họ?” Nếu quý vị gật đầu hay xá chào người khi quý vị nhìn thấy họ, nhưng họ vẫn làm ra vẻ như họ thậm chí không nhìn thấy quý vị, một lần nữa quý vị phải hồi quang: Quý vị có thật sự tôn kính họ hay không? Nếu quý vị có thể luôn luôn hồi quang, quý vị sẽ không còn xa Đạo. Quý vị đang trên đường đến với Đạo. Nói thì rất dễ, nhưng thực hành thì rất khó!
Hỏi đáp _ Pháp Sư Tịnh KhôngVấn: Vì sao xướng tụng Phật hiệu càng lớn tiếng thì đầu càng bị đau nhức, lúc còn muốn nôn, lúc thì bỗng dưng chảy nước mắt? Có phải do còn vô minh ngu si, nghiệp chướng sâu nặng, mà chiêu cảm ra như vậy?Đáp: Ngoài khả năng mắc chứng bệnh đau đầu, đây cũng có thể xem là nghiệp chướng. Niệm Phật thường không những không bị đau đầu, mà càng niệm tinh thần càng tốt, càng hoan hỉ. Niệm đến pháp hỉ sung mãn, người niệm Phật có thể không buồn ngủ không mệt mỏi, thiền tông gọi là “thiền duyệt vi thực”, có nghĩa người niệm Phật trì tụng là ăn. Do đó chúng ta niệm Phật mà hiệu quả trái ngược thì phải phản tỉnh, kiểm thảo chính mình. Nhất định vì chúng ta tu không đúng pháp, hoặc lý luận không thấu triệt, trong lòng còn hoài nghi. Đối với pháp môn niệm Phật “tín hạnh nguyện” đều nghi hoặc, miễn cưỡng mà niệm, hoặc khổ sở mà niệm thì sẽ không có giá trị. Còn đạo lý thông suốt, niệm Phật tự nhiên sinh tâm hoan hỉ.
Vấn: Bạch Ngài, tại sao gọi là luân hồi? Luân hồi ấy do nơi đâu mà phát sanh ra?Ðáp: Luân hồi nghĩa là xoay vần không ngừng nghỉ, theo lý là sanh rồi diệt, diệt rồi sanh, cứ quanh quẩn như thế trong ba cõi sáu đường.
LUÂN HỒI do nhân PHIỀN NÃO, NGHIỆP và QUẢ. Chúng sanh vì phiền não nên khi làm một việc gì, việc ấy tạo ra một hệ quả gọi là Nghiệp: Việc thiện thì nghiệp thiện, việc ác thì nghiệp ác. Nghiệp này tồn tích từ kiếp trước đến kiếp này qua kiếp sau, khiến ta hưởng phước hay là đền tội, tùy theo thiện nghiệp hay ác nghiệp: phước hay tội, đó là cái quả của nghiệp quả này là nhân sanh ra ta, rồi cái ta ấy không trọn lành, do phiền não sai khiến, lại tạo thêm nghiệp mới; rồi nghiệp mới gây thêm quả mới và quả mới tạo ra nhân mới, cứ tuần hoàn xoay chuyển như vậy mãi.
Hễ con người chưa giải thoát được thì cái vòng luân hồi này không thể nào chấm dứt được, và con người ví như con kiến bò quanh miệng chén, cứ bò mãi không có lối nào để thoát ra khỏi vòng lẩn quẩn. Cái vòng luân hồi ví như bánh xe lăn không biết lăn từ bao giờ mà đến bao giờ mới chấm dứt.
Hỏi đáp _ Pháp Sư Tịnh KhôngVấn: Trong kinh Địa Tạng có nói thiện nam tử, thiện nữ nhân, khi lâm chung đều bị vô lượng quỷ thần đến gây chướng ngại, hà huống gì chúng sanh đời nghiệp, khởi tâm động niệm, thảy đều là tội, thảy đều là nghiệp, không nên xem thường nghiệp nhỏ, tội nhỏ thì nó có thể ngang thánh đạo, lại nói nếu có người mỗi ngày niệm danh đức Địa Tạng 1000 tiếng niệm đúng 1000 ngày thì sẽ được quỷ thần ủng hộ. Khi lâm chung sẽ không bị chướng ngại.Người tu pháp môn niệm Phật, để khi lâm chung không bị quỷ thần gây chướng ngại, ngày nào cũng phải niệm danh hiệu Đức Địa Tạng, ngày nào cũng phải niệm 1000 tiếng và phải niệm đủ 1000 ngày xin hỏi như thế có được không? Có phải là tạp trợ niệm không?Đáp: Có thể, không có gì là tạp trợ niệm, mà nói là trợ trợ niệm. vì ban trợ niệm có kỳ hạn. Một ngàn ngày, mỗi ngày niệm đủ một ngàn tiếng, niệm đủ một ngàn ngày, một ngàn ngày là 3 năm. Khi bạn ở địa vị mới học, dùng pháp này làm trợ tu, dùng niệm Phật làm chánh tu, chánh tu là tu cho đến chết, là suốt cả cuộc đời chúng ta, công phu không được thiếu ngày nào, trợ tu thì trong 3 năm. Phương pháp này không thể coi là tạp tu, cũng tương đối là chuyên tu. Được.
Vậy không niệm có được không? Không niệm cũng được vì sao? Vì bạn chuyên niệm A Di Đà Phật mà quỷ thần đều tôn kính Đức A Di Đà Phật. Nếu chuyên niệm Đức A Di Đà Phật thì khi mình lâm chung quỷ thần sẽ không đến nhiễu loạn. Ở ngay cư sĩ Lâm của chúng ta đây. Lão Lâm trưởng Trần Quang Biệt vãng sanh, các oán thân trái chủ của ông ấy có đến đây xin quy y và có nói rất rõ ràng, mà lại có rất đông người nữa, tất cả đều là oán thân trái chủ của lão cư sĩ Trần, họ nhìn thấy lão cư sĩ niệm Phật vãng sanh, trong lòng rất là vui, rất là ngưỡng mộ, không có chút xíu chướng ngại nào. Những oán thân trái chủ này đã theo pháp sư đến cư sĩ Lâm, vì họ không ác ý, nên thần hộ pháp của cư sĩ Lâm không ngăn cản, để cho họ vào, họ đến đây với 2 mục đích:
Một là xin được quy y, hai là xin được nghe kinh.
Cư sĩ Trần Quang Biệt không có niệm danh hiệu Đức Địa Tạng, chỉ có niệm danh hiệu Đức A Di Đà Phật. Đây cũng là tấm gương rất tốt cho chúng ta noi theo.
Hỏi đáp _ Pháp Sư Tịnh KhôngVấn:Làm thế nào để giúp cha mẹ khởi tín tâm đối với Phật Pháp, khi lâm chung gặp được duyên lành niệm Phật Vãng sanh Thế Giới Tây Phương Cực Lạc?Đáp: Câu hỏi này rất hay có đưa ra câu hỏi này, chúng tôi mới thấy được lòng hiếu thảo của quý vị đối với cha mẹ, có thể đưa cha mẹ sang Thế Giới Tây Phương Cực Lạc, đây mới là Đại Hiếu, không có gì thù thắng hơn việc hiếu thuận cha mẹ đây, cha mẹ sanh sang Tây Phương làm Phật rồi, không chỉ là vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi mà còn vĩnh viễn thoát khỏi mười Pháp Giới. Thật sự mà nói mỗi bạn đạo niệm Phật, đối với người già nên có tấm lòng này, đây là tâm Đại Hiếu. Vậy làm thế nào để ảnh hưởng đến họ, mình phải đích thân làm, bắt đầu làm từ nơi mình, làm từ nơi thân mình, tâm mình, khiến cho cha mẹ cảm động, nhất là phải nắm chắc cơ hội, cơ duyên, lúc cha mẹ đang vui vẻ hoặc là lúc đang ăn cơm hay lúc rãnh rỗi phải nói nhiều một chút về cái lý niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, rồi kể câu chuyện quả báo thù thắng của việc Vãng sanh, như là “Tịnh Độ Thánh Hiền lục”, “Vãng sanh truyện”. Đương nhiên tốt nhất vẫn là thời cận đại này. Tướng điềm lành hiếm có về niệm Phật Vãng sanh ngay trước mắt. Những câu chuyện này sau khi nghe rồi rất có khả năng làm người ta cảm động. Kể nhiều câu chuyện cho người già nghe, khuyên nhắc người già niệm Phật Vãng sanh là thù thắng hơn hết, hiểu ra họ mới có thể buông bỏ vạn duyên nhất tâm chuyên niệm.
 Hỏi đáp _ Pháp Sư Tịnh KhôngTrong nhà tu tịnh độ có thể cúng tờ phướng Án Ma Ni Bát Di Hồng hay không?Việc này không quan trọng nhưng phải nên biết ý nghĩa của câu chú này. Đây là lục tự đại minh chú của bồ tát Quan Thế Âm. Ý nghĩa chú này rất hay, dạy chúng ta khởi tâm động niệm, lời nói việc làm đều phải chân thành, thanh tịnh, bình đẳng. “An” là thân bao gồm cả pháp thân, báo thân, ứng hóathân. “Ma Ni” tiếng Phạn gọi là hoa sen. “Bát di” là giữ gìn. “Hồng” là ý. Chiếu theo ý tứ của mặt chữ mà giảng giải là “gìn giữ thân tâm mình như đóa hoa sen”. Hoa sen thanh tịnh tuy sinh ra từ bùn nhưng không bị ô nhiễm. Cho nên khi cúng dường, chúng ta cần hiểu ý này, nhắc nhở chính mình thân tâm thanh tịnh, không nhiễm một trần mới có thể cúng.
Hỏi đáp _ Pháp Sư Tịnh KhôngCái gì là từ nơi tâm mà khởi tu?Nghe kinh thường xuyên phải nên biết vấn đề này. Đức Phật trong kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo có nói: “Bồ Tát ngày đêm thường niệm thiện pháp, tư duy thiện pháp”. Đây chính là từ nơi tâm mà tu, ngày đêm không gián đoạn, công phu hy hữu. Tâm địa lương thiện, lời nói và thân thể tự nhiên sẽ không thể tạo ác nghiệp được nữa.
Hỏi đáp _ Pháp Sư Tịnh KhôngTu pháp môn tịnh độ có phải là niệm Phật hiệu đến sau cùng, hay nghe toàn bộ kinh giảng?Hoàn toàn lệ thuộc ở bản thân mỗi người. Mục đích của việc giảng kinh là giúp đoạn nghi sinh tín. Đối với tịnh độ, nếu không chút hoài nghi, đã có tín tâm vững chắc, thì kinh tụng hay không tụng, nghe hay không nghe cũng không quan hệ gì. Chỉ cần một câu Phật hiệu cũng thành công. Do đó, chúng ta phải hiểu rõ đạo lý này, nếu có hoài nghi, tín tâm nguyện lực không kiên cố, cần thiết phải nghe, đọc nhiều kinh thì vấn đề liền được giải quyết.
 Pháp Sư Tịnh Không nói:Vì xem thường chúng sinh, chính mình luôn có thái độ cống cao ngã mạn khiến cơ hội vãng sinh bất thoái thành Phật. Không phải chư Phật Bồ Tát không giúp đỡ mà chính chúng ta bỏ lỡ cơ hội trước mắt. Do đó cần phản tỉnh, kiểm điểm ở mình, khi thật sự giác ngộ, đạo Bồ Tát sẽ thuận buồm xuôi gió, không còn chướng ngại. Tỉ mỉ quán xét, không chút ngạo mạn, hiểu rõ chân tướng sự thật, chúng sinh đích thực là cha mẹ quá khứ của ta, xác xác thực thực là “chư Phật vị lai”. Đức Phật nhìn thấy đời quá khứ của con người, quá khứ còn có quá khứ, quá khứ vô cùng, vô lượng vô biên kiếp đến nay, cùng với chúng sinh có quan hệ quyến thuộc, đồng l quan hệ quyến thuộc thì làm sao có thể đối xử không tốt. Người thế gian thường hay tiếc của, nhìn thấy liền khởi tham sân si mạn, tạo tác nhiều ác nghiệp, phải chịu quả báo.Chúng ta may mắn gặp được Phật pháp, gặp Đại thừa, được Phật giảng giải tường tận giúp giác ngộ. Sau khi giác ngộ, tâm chúng ta thay đổi rất lớn theo hướng tích cực. Dùng tâm chân thành hiếu thuận để cúng dường đại chúng, phước báu vô lượng như kinh đã nói: “được công đức lợi ích như bố thí trăm Hằng sa chư Phật”. Cơ duyên khó đến, hi hữu khó gặp, chân thật hiểu rồi, chân chính giác ngộ, tự nhiên sẽ toàn tâm toàn lực phụng hiến đại nghiệp này, cũng là cúng dường cha mẹ, cúng dường chư Phật.Pháp Sư Tịnh Không
Cẩn Dịch : Vọng Tây Cư Sĩ
Biên Tập : PT Giác Minh Duyên
Giảng tại Tịnh tông học hội, Singapore, tháng 05- 1998
Cho Và NhậnCó một lần đọc được một truyện ngắn của chị bạn viết là hồi Thầy Thiên Ân sắp mất, chị thường hay lại thăm Thầy và rất buồn khi thấy bệnh thân thể Thầy đau đớn. Chị thường khắc khoải không biết làm gì để Thầy vui, để Thầy bớt đau. Một hôm khi chị hỏi “Thầy muốn con làm gì” thì Thầy bảo chị đi mua cho Thầy chiếc mũ đội cho ấm đầu. Hôm đó là ngày cuối tuần. Đã bảy giờ tối. Các tiệm lớn đều đóng cửa. Nhưng Thầy muốn chị đi mua ngay. Chị đành chạy ra tiệm Thrifty lúc đó còn mở cửa mua chiếc mũ đem về. Thầy nhận và tỏ vẻ vui. Còn chị thì rất vui vì làm được một việc vừa lòng Thầy.
Sau đó ít lâu Thầy qua đời. Và khi chị tới giúp dọn dẹp phòng Thầy ở cũ, chị thấy ở trong tủ Thầy có cả tá mũ đủ loại rất đẹp. Chiếc mũ của chị mua biếu Thầy hôm đó trông tầm thường nhất. Chị chợt tỉnh ra. Nhìn thì tưởng chị làm CHO Thầy vui. Chị là người làm phước. Thực ra chính Thầy cho chị cơ hội để chị được vui một lần chót với Thầy. Để chị được phước báu. Chính chị là người NHẬN, người được, người thụ ơn. Từ kinh nghiệm đó chị nhận và biết là trong cuộc đời nghĩ tới cùng thì nhiều khi người cho lại chính là người nhận. Người nhận là người cho. Không biết ai là ai. Và ai phải cám ơn ai. Thôi thì cứ cám ơn nhau vậy. Và cám ơn Đời.
Trích Hạnh Bố Thí
Tác giả: Du Li
Hỏi đáp _ Pháp Sư Tịnh KhôngCó phải tất cả thương tích bên ngoài đều do nghiệp nhân chiêu cảm? Mỗi lần nhiếp tâm niệm Phật thì chướng ngại xuất hiện rất nhiều. Có người khuyên không nên phát tâm mà hãy tùy duyên, nên hồi hướng công đức cho oan gia trái chủ. Vậy nên làm thế nào để có thể thành tựu?Thương tích bên ngoài đôi khi do chúng ta không cẩn thận, chưa hẳn là nhân quả báo ứng. Người Trung Quốc xưa giảng hiếu đạo, hiếu thân không nên làm cho cha mẹ lo lắng. Tất cả hành động cẩn thận tỉ mỉ, không để thân thể chính mình bị tổn thương gây lo buồn cho cha mẹ.
Oan gia trái chủ, mỗi người đều có, hơn nữa còn có vô số kể từ nhiều kiếp trong quá khứ. Đức Phật dạy chúng ta phương pháp rất hay, chúng ta tu hành không phải vì chính mình. Nếu tu vì chính mình, oan gia trái chủ vẫn tìm đến gây phiền phức. Vì chúng ta còn mang tâm tự tư tự lợi. Tu vì tất cả chúng sinh bao gồm các oan gia trái chủ, oan nghiệp này lập tức liền được hóa giải. Chúng ta đoạn ác không vì chính mình mà đoạn ác; tu thiện không vì chính mình mà tu thiện; phá mê không vì chính mình mà phá mê, khai ngộ không vì chính mình mà khai ngộ; thành Phật cũng không vì chính mình mà thành Phật. Chỉ cần có tâm muốn độ tất cả chúng sinh, thì hiệu quả của việc hồi hướng này sẽ rất rõ ràng trong đời sống chúng ta.
Cho nên tâm lượng phải lớn, lượng lớn phước lớn. Tâm lượng nhỏ, phước báu sẽ nhỏ. Phải hiểu rõ đạo lý này để mở rộng tâm lượng giống như chư Phật Bồ Tát, tâm bao thái hư, lượng khắp pháp giới .
Hỏi đáp _ Pháp Sư Tịnh KhôngQuy y Tam Bảo thay cho người thân có được không?Không thể được. Quy y phải do chính mình phát tâm, không thể làm thay. Nếu ở nơi hẻo lánh, không có tự viện, không có pháp sư, chính mình phải chân thật phát tâm quy y, thọ năm giới, mười giới đều có thể ở trước tượng Phật, tự mình tuyên thệ. Quy y nhất định phải hiểu đạo lý của quy y. Từ chỗ nào mà quy, y theo cái gì? Phải thật rõ ràng, thông suốt thì việc phát tâm liền có hiệu quả. Mơ mơ hồ hồ quyết định quy y, việc quy y này không có lợi ích. Chúng tôi có một quyển sách nhỏ “Truyền thọ Tam quy” và đĩa VCD nói rõ nội dung này. Tóm lại, nếu chân thật phát tâm quy y thì ở trước hình tượng Phật Bồ Tát tự mình cũng có thể tuyên thệ quy y.
Hỏi đáp _ Pháp Sư Tịnh KhôngLần chuỗi niệm Phật mỗi khi nghe giảng pháp hay khi trò chuyện. Làm như vậy có đúng không?Trong kinh không hề nói không được lần chuỗi niệm Phật khi nói chuyện. Phật không hề nói như vậy. Lần chuỗi hay không đều tốt cả. Lần chuỗi là nhắc nhở chính mình niệm Phật, cầm chuỗi cũng có thể độ được rất nhiều chúng sinh. Chúng tôi thường khuyên người học Phật, hay các tín đồ Phật giáo tay cầm tràng hạt khi đi trên đường dù niệm hay không niệm. Người khác nhìn thấy sẽ có ấn tượng chúng ta đang niệm Phật. Ấn tượng đó thâm nhập vào A Lại Da thức của họ, trồng vào A Lại Da thức họ một hạt giống Phật. Đó là việc tốt tuy không phải là một vấn đề lớn.
 Lời khai thị của ẤN QUANG ĐẠI SƯBất luận là người tu tại gia hay xuất gia, cần phải trên kính dưới hòa, nhẫn nhục điều người khác khó nhẫn được, làm những việc mà người khác khó làm được, thay người làm những việc cực nhọc, thành toàn cho người là việc tốt đẹp. Khi tĩnh tọa thường nghĩ đến điều lỗi của mình. Lúc nhàn đàm đừng bàn đến điều sai trái của người. Lúc đi đứng nằm ngồi ăn mặc, từ sáng đến tối từ tối đến sáng, chỉ niệm Phật hiệu không để gián đoạn: hoặc niệm nho nhỏ, hoặc niệm thầm.
Ngoài việc niệm Phật, đừng dấy khởi một niệm nào khác. Nếu khởi vọng niệm, phải tức thời bỏ ngay. Thường có lòng hổ thẹn và tâm sám hối. Nếu đã tu trì, phải tự hiểu là công phu của ta hãy còn nông cạn, chẳng nên tự kiêu căng, khoa trương, chỉ nên chăm sóc việc nhà mình mà đừng nên dính vào việc nhà người. Chỉ nên nhìn đến những hình dạng tốt đẹp mà đừng để mắt tới hình dạng xấu xa bại hoại. Hãy coi mọi người đều là Bồ tát, mà ta chỉ là kẻ phàm phu.
Nếu quả có thể tu hành được như những điều kể trên, thì nhất định được sinh về Tây Phương Cực Lạc Thế Giới.
Tổ Liên Trì bảo:“Nhất tâm niệm Phật thì vạn duyên tự xả, đấy chính là Bố Thí Ba La Mật.
Nhất tâm niệm Phật thì các ác tự dứt, đấy chính là Trì Giới Ba La Mật.
Nhất tâm niệm Phật thì tâm tự nhu nhuyễn, đấy chính là Nhẫn Nhục Ba La Mật.
Nhất tâm niệm Phật trọn chẳng thối đọa, đấy chính là Tinh Tấn Ba La Mật.
Nhất tâm niệm Phật thì các tưởng chẳng sanh, đấy chính là Thiền Ðịnh Ba La Mật.
Nhất tâm niệm Phật thì chánh niệm phân minh, đấy chính là Bát Nhã Ba La Mật”.
Hỏi đáp _ Pháp Sư Tịnh Không.Ma ở trong tâm, làm thế nào để tâm Phật thắng được tâm ma? Phật thường ở trong tâm thiện. Nếu có người làm ác, phải làm gì để họ theo thiện bỏ ác?Kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo đã giải thích cho chúng ta vấn đề này. Phật cùng ma là một, không phải hai. Giác ngộ rồi ma liền thành Phật; mê hoặc rồi, Phật biến thành ma. Cho nên, một niệm giác ngộ thì Phật ở tại tâm, một niệm vừa mê, thì ma ở tại tâm. Phật dạy bảo chúng ta phải thường giác ngộ. Một niệm vì chính mình, tự tư tự lợi, chính là ma, tâm này chính là tâm ma. Thay đổi lại ý niệm, vì xã hội, vì chúng sinh, tâm này chính là tâm Phật. Do đó làm thế nào đem cái ý niệm tự tư tự lợi chuyển đổi thành lợi ích xã hội, lợi ích chúng sinh. Đây là mấu chốt vô cùng quan trọng. Người có thể thay đổi được ý niệm, đương nhiên họ có thể đoạn ác hướng thiện.
Bách Ðình pháp sư nói:
“Người tu Tịnh nghiệp thường lắm kẻ biết được pháp môn, nhưng chẳng có mấy kẻ chịu gấp gáp tu hành. Bàn về Tịnh Ðộ, thường có lắm kẻ nắm vững yếu chỉ, nhưng người trực chỉ lại quá ít ỏi. Có kẻ chưa nghe đã tự chướng, tự ngăn người khác giảng giải cho mình. Tự chướng thì không chi bằng Ái; tự ngăn không chi bằng Nghi. Chỉ cốt hai cái tâm Ái và Nghi ấy không còn chướng ngại nữa thì một môn Tịnh Ðộ mới chẳng bị ngăn cách. Trong bài tựa Tịnh Ðộ Thập Nghi Luận, Vô Vi Tử viết: “Ái chẳng nặng chẳng sanh Sa Bà. Niệm chẳng chuyên nhất chẳng sanh Cực Lạc” . Huệ Viễn pháp sư đời Tấn kết liên xã nơi Lô Sơn: Ðối với ông Uyên Minh thì ngài mời mọc vì quý trọng ông ấy đã thông đạt, lại còn đoạn được ái. Với ông Linh Vận thì ngài cự tuyệt, vì ông này tâm tạp, lại chẳng thể chuyên niệm. Há chẳng phải là đoạn trừ hai điều ấy (nghi và ái) chính là điều cốt yếu trong Tịnh Ðộ ư?
Niệm Phật Tiêu Nghiệp ChướngKinh nói: “Niệm một câu A Di Đà, tiêu 80 vạn ức kiếp tội lớn nơi đường sanh tử. Hằng ngày trong mọi nơi mọi lúc, đi xe đi tàu, rửa chén quét nhà đều có thể niệm Phật dễ dàng, lâu ngày thuần thục, nghiệp chướng tự tiêu.”Phẩm “Hạt muối” trong tăng chi bộ kinh có ví dụ rằng “Một người dân đen đánh trộm một con dê của một nhà giàu có thế lực, có thể bị đánh đập đổ máu …tại chỗ và bị tù tội. Nhưng một đại quan của triều đình bắt trộm con dê của nhà giàu có thế lực ấy thì không bị đánh đập, cũng không tù tội. Ví như một nắm muối thả vào một hồ nước lớn hay con sông lớn thì độ mặn không đáng kể, nhưng nếu nắm muối ấy cho vào một ghè nước thì độ mặn lại đáng kể. Cũng thế, cùng phạm một tội, với người tâm tư bỏn xẻn không tu tập giới định tuệ thì kết quả có thể đi vào địa ngục, nhưng với người có tu tập giới định tuệ, có từ tâm rộng rãi thì kết quả xem như không có” Người niệm Phật, tức là đang tu giới định tuệ mà thường rải tâm từ cứu độ chúng sanh thì nghiệp chướng bao đời đều tiêu hết.
Trích Di Đà Huyền Chỉ
Tổ Triệt Ngộ dạy: “Thể hiện đến tột cùng cốt tủy nhà Thiền, nêu Giáo đến cùng cực chính là A Di Ðà Quả Phật An Lạc Tây Phương”.Tổ Tỉnh Am dạy: “Một ngàn bảy trăm sợi mây, một dao chém phăng. Tám vạn bốn ngàn pháp tạng, sáu chữ tóm trọn”.Tổ Ngẫu Ích bảo: “Một pháp Trì Danh độ trọn ba căn, gồm thâu cả sự lẫn lý không còn sót, tóm trọn Tông lẫn Giáo chẳng sểnh chút gì”.thiền sư Triệt Ngộ mới nói: “Một câu A Di Ðà Phật chính là tâm yếu của đức Phật ta. Xét theo chiều dọc, danh hiệu ấy thông suốt ngũ thời , xét theo chiều ngang gồm trọn bát giáo .Tôi nay xin khuyên người đồng học
Chỉ mỗi một câu A Di Ðà
Nguyện sinh Tây Phương Cực Lạc quốcNam Mô A Di Đà Phật
Nam Mô A Di Đà Phật
Nam Mô A Di Đà Phật
Liên Trì đại sư nói: “Có thể thật sự niệm Phật, buông thân tâm, thế giới xuống, chính là đại bố thí. Chẳng khởi tham, sân, si nữa chính là đại trì giới. Chẳng kể thị phi nhân ngã, chính là đại nhẫn nhục. Chẳng gián đoạn, chẳng xen tạp chính là đại tinh tấn. Chẳng còn vọng tưởng rong ruổi chính là đại thiền định. Chẳng bị những ngã rẽ khác làm lầm lạc chính là đại trí huệ.
Lão Cư Sĩ Lý Bỉnh Nam Khai ThịPhật pháp vô biên, đối với mỗi căn khí đều có phương tiện. Tổ sư Ngẫu Ích đã dạy cho kẻ ngu pháp “sám hối hồi hướng”. Với hết thảy những sự nơi thân, khẩu, ý, hễ lành thì hồi hướng Tây Phương, hễ ác thì sám hối ngay lập tức. Ngay cả việc lành sám hối đó cũng đem hồi hướng Tây Phương. Kẻ si chẳng thể phân biệt thiện ác thì cứ nhất loạt sám hối, nhất loạt hồi hướng. Tâm quyết định như thế thì niệm niệm tại Tây Phương, lực dụng rất lớn. Cách thực hiện như sau:
1) Sau hai khóa lễ sáng tối liền sám hối, hồi hướng.
2) Thường ngày hễ gặp cảnh trái ngang, lăng nhục, khốn khổ liền lập tức sám hối, hồi hướng. Bởi đấy là do túc nghiệp tạo thành như thế cho nên phải sám hối nghiệp nặng.
3) Lúc tâm khởi ác niệm, phiền não bèn lập tức sám hối. Do nghiệp lực nên phiền não thường khởi, đừng đổ lên người khác. Nếu không, hậu báo vô cùng vậy. Bởi lẽ, những chuyện ngang trái v.v… là do nghiệp lực, chịu xong liền hết. Nếu lại khởi phiền não gieo vạ cho người khác thì sẽ xoay vần báo trả nhau, chính là mình tự hại mình vậy!
Ba thứ sám hối hồi hướng như thế chính là pháp môn mất nhiều năm tôi mới cầu được, nay tặng cho quý vị. Quý vị hãy thực hành, đừng khinh là tầm thường. Tổ Ngẫu Ích bảo sám hối, hồi hướng lại thêm niệm Phật thì không ai là chẳng thành cả!
Kinh dạy: “Chí tâm niệm Phật một câu tiêu trừ được trọng tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử”. Trong hai mươi năm qua, quý vị không một ai niệm được như vậy. Chí tâm là lúc niệm Phật trước hết phải dọn tâm cho thật sạch sẽ, rỗng rỗng rang rang thì ngay khi ấy, một câu Phật hiệu thông trên suốt dưới, không còn gì khác cả. Niệm chí tâm như thế thì mới hòng đạt được “Nhất Tâm Bất Loạn”. Quý vị niệm Phật hãy nên theo nguyên tắc này, nhưng làm thế nào để chí tâm? Xin đáp: “Tội từ tâm khởi dùng tâm sám”. Do còn tội nghiệp nên tâm khởi phiền não. Lúc tâm khởi phiền não thì sẽ tạo tội nghiệp. Ngay lúc ấy phải sám hối cho nó tiêu mất. “Tâm đã diệt rồi tội cũng không”. Do còn tội nghiệp nên chẳng thể chí tâm. Tội nghiệp đã diệt sẽ tự nhiên chí tâm. Bởi thế bảo: “Tội diệt, tâm mất thảy đều không, thế mới gọi là chân sám hối”. Niệm Phật như thế thì đạt được chí tâm, diệt được trọng tội, dù bom nguyên tử có rơi xuống cũng chẳng ngại gì. Kệ rằng:
Tâm nhất phân minh đoạn hoặc thì,
Vãng sanh chứng quả thượng hà nghi,
Tuy nhiên thường thuyết hoặc nan đoạn,
Sám hối huyền môn tích bất tri.
Tâm đã phân minh đoạn hoặc rồi,
Vãng sanh chứng quả há nào sai,
Tuy thường hay bảo Hoặc khó đoạn,
Sám hối huyền môn tiếc chẳng hay.
Nếu niệm đến Nhất Tâm Bất Loạn thì chính là lúc đoạn Hoặc. Như vậy ắt được vãng sanh, vãng sanh rồi ắt mau chứng Phật quả. Lý thật phân minh, còn nghi ngờ gì nữa? Tuy nói là đoạn Hoặc rất khó, đoạn một phẩm Kiến Tư Hoặc như cắt đứt dòng sông chảy mạnh rộng đến bốn mươi dặm, nhưng vẫn có pháp môn mầu nhiệm chính là sám hối hồi hướng. Ðấy chính là huyền môn. Tiếc rằng người đời chẳng biết. Niệm Phật mà biết phối hợp với pháp môn này thì sẽ thành tựu dễ dàng!
Cư sĩ Lý Bỉnh Nam khai thị tại Phật thất chùa Linh Sơn năm Nhâm Tý
Đệ tử Ngô Thông Long kính ghi
Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa dịch Việt

THÁI THƯỢNG CẢM ỨNG THIÊN

1. MINH NGHĨA

Thái Thượng viết:
Họa phúc vô môn duy nhân tự triệu.
Thiện ác chi báo như ảnh tùy hình.
Thái Thượng nói:
Họa phúc không có lối mà do người tự triệu.
Báo ứng thiện ác như bóng theo hình.

2. GIÁM SÁT

Thị dĩ, thiên địa hữu Tư Quá chi Thần, y nhân sở khinh trọng dĩ đoạt nhân toán. Toán giảm tắc bần hao, đa phùng ưu hoạn, nhân giai ố chi, hình họa tùy chi, cát khánh tị chi, ác tinh tai chi. Toán tận tắc tử. Hựu hữu Tam Thai, Bắc Đẩu Thần Quân tại nhân đầu thượng, lục nhân tội ác, đoạt kỳ kỷ toán. Hựu hữu Tam Thi Thần tại nhân thân trung, mỗi đáo Canh Thân nhật, triếp thướng nghệ Thiên Tào, ngôn nhân tội quá. Nguyệt hối chi nhật, Táo Thần diệc nhiên. Phàm nhân hữu quá, đại tắc đoạt kỷ, tiểu tắc đoạt toán. Kỳ quá đại tiểu hữu sổ bách sự. Dục cầu trường sinh giả, tiên tu tị chi. Cho nên, trời đất có thần ghi tội, xét người lỗi nặng nhẹ mà giảm Toán*.
Toán giảm thì nghèo khổ mất mát, hay gặp hoạn nạn, mọi người ghét bỏ, hình họa theo sau, tốt lành lánh xa, ác tinh gieo họa. Hết Toán thì chết. Lại có Tam Thai, Bắc Đẩu thần quân ở trên đầu, ghi chép tội ác,
để trừ Kỷ**  Toán. Lại có Thần Tam Thi ở trong thân người, tới ngày Canh Thân,
lên thẳng Thiên Tào,
báo cáo tội lỗi. Đến ngày cuối tháng,
Táo Thần cũng vậy. Phàm nhân có tội,
lớn thì giảm Kỷ, nhỏ thì giảm Toán.
Tội lỗi lớn nhỏ phải đến vài trăm. Muốn cầu trường sinh, trước tiên nên tránh.

3. TÍCH THIỆN

Thị đạo tắc tiến, phi đạo tắc thoái. Bất lý tà kính. Bất khi ám thất. Tích đức lũy công. Từ tâm ư vật. Trung, hiếu, hữu, đễ. Chính kỷ hóa nhân. Căng cô tuất quả. Kính lão hoài ấu. Côn trùng thảo mộc, do bất khả thương. Nghi mẫn nhân chi hung. Lạc nhân chi thiện. Tế nhân chi cấp. Cứu nhân chi nguy. Kiến nhân chi đắc như kỷ chi đắc. Kiến nhân chi thất như kỷ chi thất. Bất chương nhân đoản, bất huyện kỷ trường. Át ác dương thiện. Thôi đa thủ thiểu. Thụ nhục bất oán. Thụ sủng nhược kinh. Thi ân bất cầu báo. Dữ nhân bất truy hối. Hợp đạo thì tiến, trái đạo thì thoái. Không theo tà đạo. Không khinh nhà tối. Tích lũy công đức. Từ tâm với vật. Trung, hiếu, hữu, đễ. Sửa mình dạy người. Thương giúp cô quả. Kính già yêu trẻ. Côn trùng cây cỏ, cũng không đả thương. Thương người gặp nạn. Mừng người gặp thiện. Cứu tế người gặp nguy cấp. Thấy người được như mình được.
Thấy người mất như mình mất.
Không nêu điều người kém, không khoe điều mình giỏi. Ngăn ác khen thiện. Cho nhiều giữ ít. Chịu nhục không oán. Được sủng ái nên lo. Thi ân chẳng cầu báo. Cho rồi không hối tiếc.

4. THIỆN BÁO

Sở vi thiện nhân, nhân giai kính chi, thiên đạo hữu chi, phúc lộc tùy chi, chúng tà viễn chi, thần linh vệ chi, sở tác tất thành, thần tiên khả ký. Dục cầu thiên tiên giả, đương lập nhất thiên tam bách thiện. Dục cầu địa tiên giả, đương lập tam bách thiện Nếu là người thiện, mọi người kính trọng, thiên đạo giúp đỡ, phúc lộc theo sau, tà ác tránh xa, thần linh hộ vệ, cứ làm là thành, có thể thành thần tiên. Muốn cầu thiên tiên,
cần làm một nghìn ba trăm thiện. Muốn cầu địa tiên, cần làm ba trăm thiện.

5. CHƯ ÁC (THƯỢNG)

Cẩu hoặc phi nghĩa nhi động, bối lý nhi hành, dĩ ác vi năng, nhẫn tác tàn hại, âm tặc lương thiện, ám vũ quân thân, mạn kỳ tiên sinh, bạn kỳ sở sự, cuống chư vô thức, báng chư đồng học, hư vu trá ngụy công yết tông thân, cương cường bất nhân, ngận lệ tự dụng, thị phi bất đang, hướng bối quai nghi, ngược hạ thủ công, siểm thượng hy chỉ, thụ ân bất cảm, niệm oán bất hưu, khinh miệt thiên dân, nhiễu loạn quốc chính, thưởng cập phi nghĩa, hình cập vô cô, sát nhân thủ tài, khuynh nhân thủ vị, tru hàng lục phục, biếm chính bài hiền, lăng cô bức quả, khí pháp thụ lộ, dĩ trực vi khúc, dĩ khúc vi trực, nhập khinh vi trọng, kiến sát gia nộ, tri quá bất cải, tri thiện bất vi, tự tội dẫn tha,
ung tắc phương thuật, sán báng thánh hiền, xâm lăng đạo đức, xạ phi trục tẩu, phát trập kinh thê, điền huyệt phúc sào, thương thai phá noãn, nguyện nhân hữu thất, hủy nhân thành công, nguy nhân tự an, giảm nhân tự ích, dĩ ác dịch hảo, dĩ tư phế công, thiết nhân chi năng, tế nhân chi thiện, hình nhân chi xú, yết nhân chi tư, hao nhân hoá tài, ly nhân cốt nhục, xâm nhân sở ái, trợ nhân vi phi, sính chí tác uy, nhục nhân cầu thắng, bại nhân miêu giá, phá nhân hôn nhân, cẩu phú nhi kiêu, cẩu miễn vô sỉ, nhận ân thôi quá, giá họa mại ác, cô mãi hư dự, bao trữ hiểm tâm, tỏa nhân sở trường, hộ kỷ sở đoản, thừa uy bức hiếp, túng bạo sát thương, vô cố tiễn tài, phi lễ phanh tể, tán khí ngũ cốc, lao nhiễu chúng sinh, phá nhân chi gia thủ kỳ tài bảo, quyết thủy phóng hỏa dĩ hại dân cư, văn loạn qui mô dĩ bại nhân công, tổn nhân khí vật dĩ cùng nhân dụng, kiến tha vinh quý nguyện tha lưu biếm, kiến tha phú hữu nguyện tha phá tán, kiến tha sắc mỹ khởi tâm tư chi, phụ tha hóa tài nguyện tha thân tử, can cầu bất toại tiện sinh chú hận, kiến tha thất tiện tiện thuyết tha quá, kiến tha thể tướng bất cụ nhi tiếu chi, kiến tha tài năng khả xưng nhi ức chi ..
Ví như làm điều phi nghĩa, đi ngược đạo lý, hay làm điều ác, nhẫn tâm tàn hại, ngầm hại lương thiện, khi quân bất hiếu, khinh khi thầy dạy,
phản bội tổ chức, lừa người không biết,
chê bai bạn học, dối trá lật lọng công kích tộc họ, cương cường bất nhân,
hung ác tàn nhẫn, bất phân phải trái,
tráo trở ngược xuôi, ngược đãi cướp công kẻ dưới, nịnh bợ đón ý bề trên, chịu ơn không nhớ, oán hận chẳng quên, khinh trời miệt dân, gây rối phép nước, thưởng kẻ phi nghĩa,
phạt người vô tội, giết người cướp của, hại người chiếm quyền, giết kẻ đầu hàng, phế người ngay, bỏ người hiền, ức hiếp cô quả, ăn hối lộ phạm pháp, cong thành thẳng, thẳng thành cong, tội nhẹ thành nặng, thấy chết giận thêm, biết lỗi không sửa, biết thiện không làm, tội mình hại người, cản trở tài năng, báng bổ thánh hiền, phá hỏng đạo đức, săn chim bắt thú,
phá ổ rung cây, lấp hang lật tổ,
phá thai hại trứng, mong người thất bại,
huỷ người thành công, hại người để cầu an, thiệt người lợi ta, lấy xấu thay tốt, vì việc riêng bỏ việc công, trộm tài của người, che lấp việc thiện, phô chỗ xấu, bới móc việc người khác, làm người hao tài, chia rẽ cốt nhục, chiếm thứ người yêu thích, giúp người làm càn, khoái chí tác oai, hạ nhục người để cầu thắng, làm hỏng giống má, phá hoại hôn nhân, chớm giàu sinh kiêu, chạy chọt vô sỉ, nhận ân chối tội, gieo hoạ gán tiếng ác, mua bán hư danh, tâm địa hiểm độc, phá sở trường của người, bảo vệ sở đoản của mình, cậy quyền bức hiếp, dung túng ác sát, vô cớ chặt bỏ, tự nhiên giết mổ, phung phí ngũ cốc, lao nhiễu chúng sinh, phá gia đình người chiếm đoạt tài bảo, khơi thuỷ phóng hoả làm hại dân cư, làm loạn phép tắc huỷ công người khác, phá hỏng đồ vật để bức dụng người,
thấy người vinh quý mong bị vùi dập,
thấy người giàu có mong người phá sản,
thấy người mỹ lệ thì sinh tà tâm, thiếu nợ người ta mong cho họ chết, mong cầu không được thì sinh oán chửi, thấy người mắc lỗi còn nói móc thêm, thấy người hình tướng bất toàn thì cười chê, thấy người tài năng nên khen ngợi lại chèn ép ..

6. CHƯ ÁC (HẠ)

Mai cổ yếm nhân, dụng dược sát thụ,   nhuế nộ sư phó, để xúc phụ huynh, cưỡng thủ cường cầu, háo xâm háo đoạt, lỗ lược trí phú, xảo trá cầu thiên, thưởng phạt bất bình, dật lạc quá tiết, hà ngược kỳ hạ, khủng hách ư tha, oán thiên vưu nhân, ha phong mạ vũ, đấu hiệp tranh tụng, vọng trục bằng đảng, dụng thê thiếp ngữ vi phụ mẫu huấn, đắc tân vong cố, khẩu thị tâm phi, tham mạo ư tài, khi võng kỳ thượng, tạo tác ác ngữ, sàm hủy bình nhân,
hủy nhân xưng trực, mạ thần xưng chính, khí thuận hiệu nghịch, bối thân hướng sơ, chỉ thiên địa dĩ chứng bỉ hoài, dẫn thần minh nhi giám ôi sự, thí dữ hậu hối, giả tá bất hoàn, phận ngoại doanh cầu,
lực thượng thi thiết, dâm dục quá độ,
tâm độc mạo từ, uế thực ủy nhân, tả đạo hoặc chúng, đoản xích hiệp độ, khinh xứng tiểu thăng, dĩ ngụy tạp chân,
thái thủ gian lợi, áp lương vi tiện, mạn mạch ngu nhân, tham lam vô yếm, chú trớ cầu trực, thị tửu bột loạn, cốt nhục phẫn tranh, nam bất trung lương, nữ bất nhu thuận, bất tri kỳ thất, bất kính kỳ phu, mỗi háo căng khoa, thuờng hành đố kỵ, vô hạnh ư thê tử, thất lễ ư cữu cô, khinh mạn tiên linh, vi nghịch thượng mệnh, tác vi vô ích, hoài hiệp ngoại tâm, tự chú chú tha, thiên tăng thiên ái, việt tỉnh việt táo, khiêu thực khiêu nhân,
tổn tử đọa thai, hành đa ẩn tịch, hối lạp ca vũ, sóc đán hiệu nộ, đối bắc thế thóa cập niệu (nịch), đối táo ngâm vịnh cập khốc, hựu dĩ táo hỏa thiêu hương, uế sài tác thực, dạ khởi lõa lộ, bát tiết hành hình, thóa lưu tinh, chỉ hồng nghê, triếp chỉ tam quang, cửu thị nhật nguyệt, xuân nguyệt liệu lạp, đối bắc ác mạ, vô cố sát qui đả xà.
Chôn bùa hại người, dùng thuốc giết cây,
oán giận sư phụ, xung đột cha anh, tham lấy tham cầu, thích chiếm thích đoạt, cướp mà giàu có, xảo trá thăng quan, thưởng phạt bất công, dục lạc quá mức, ngược đãi thuộc hạ,
đe dọa hống hách, oán trời hận người, mắng gió chửi mưa, tranh đấu kiện tụng, kết bè làm càn, nghe lời thê thiếp trái lời cha mẹ,
có mới nới cũ, nghĩ không nói có,
thấy lợi làm liều, dối lừa bề trên,
nói lời độc ác, gièm siểm người khác,
chửi thần, hại người mà xưng chính, trực,
bỏ thuận theo nghịch, bỏ người thân theo người dưng, chỉ thiên địa chứng lòng xấu xa, gọi thần linh giám điều bỉ ổi, cho rồi hối tiếc, vay mượn không trả, cầu quá phận mình,
ra sức tính toán, dâm dục quá độ,
khẩu phật tâm xà, đồ thiu cho người, tả đạo dụ người, thước ngắn đo thiếu, đấu nhỏ cân điêu, lẫn lộn thật giả,
thu lợi gian trá, bóc lột lương thiện, khinh gạt người ngu, tham lam vô tận, nguyền rủa (lời) cương trực, ham rượu quậy phá, cốt nhục tranh giành, nam không trung lương, bỏ bê nhà cửa, nữ không nhu thuận, bất kính chồng mình, chỉ thích khoe khoang, thường hay đố kỵ,
vô hạnh với vợ con, thất lễ với nhà chồng,
khinh mạn tổ tiên, làm trái thượng lệnh,
làm điều vô ích, thầm sinh lòng khác,
rủa mình rủa người, yêu ghét thiên lệch, bước qua giếng, bếp lò, nhảy qua người, đồ ăn,
phá thai hại con, làm điều mờ ám, cuối năm ca múa, đầu năm giận hờn,  sỉ, nhổ, tiểu tiện về hướng bắc,  rên, hờ, khóc lóc hướng ông Táo, lại lấy bếp lửa đốt hương, củi bẩn nấu ăn,
đêm xuống lõa lồ, ngày lành hành hình,
mắng sao băng, chê cầu vồng, thường chê tam quang***, nhìn lâu nhật nguyệt, mùa xuân đốt rừng săn bắn, hướng bắc rủa độc, vô cớ đánh rắn giết rùa.

7. ÁC BÁO

Như thị đẳng tội, Tư Mệnh tùy kỳ khinh trọng, đoạt kỳ kỷ toán. Toán tận tắc tử. Tử hữu dư trách, nãi ương cập tử tôn. Hựu chư hoạnh thủ nhân tài giả, nãi kế kỳ thê tử gia khẩu đang chi, tiệm chí tử tang, nhược bất tử tang, tắc hữu thuỷ hỏa đạo tặc, di vong khí vật, tật bệnh khẩu thiệt chư sự, dĩ đang vọng thủ chi trực. Hựu uổng sát nhân giả, thị dịch đao binh nhi tương sát dã. Thủ phi nghĩa chi tài giả, thí như lậu phụ cứu cơ, trấm tửu chỉ khát, phi bất tạm bão, tử diệc cập chi. Những tội như vậy, Chủ Mệnh tùy theo nặng nhẹ, đoạt lấy kỷ toán. Toán hết thì chết. Chết chưa hết tội, tai ương đến đời con cháu. Lại còn cướp tiền của người, thì vợ con gia đình phải chịu lây, dần cho đến chết,
nếu mà không chết, ắt có thuỷ hoả đạo tặc, rơi đồ mất vật, bệnh tật, điều tiếng miệng lưỡi, là cái giá cho sự cướp giật. Còn giết oan người khác, đổi lại binh đao cũng bị giết lại. Giữ của phi nghĩa, ví như
thịt thối cứu đói, rượu độc giải khát, đã chẳng tạm no, cận kề cái chết.

8. CHỈ VI

Phù tâm khởi ư thiện, thiện tuy vị vi nhi cát thần dĩ tùy chi.
Hoặc tâm khởi ư ác, ác tuy vị vi nhi
hung thần dĩ tùy chi.
Hễ tâm khởi thiện, thiện tuy chưa làm,
thiện thần đã theo.
Hoặc tâm khởi ác, ác tuy chưa làm,
ác thần đã theo.

9. HỐI QUÁ

Kỳ hữu tằng hành ác sự, hậu tự cải hối, chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, cửu cửu tất hoạch cát khánh, sở vị chuyển họa vi phúc dã. Đã từng làm điều ác, sau tự hối cải,
mọi ác không làm, hành mọi điều thiện,
lâu lâu ắt có điều lành, gọi là chuyển họa thành phúc vậy.

10. LUẬT ĐỊNH

Cố, cát nhân ngứ thiện, thị thiện, hành thiện, nhất nhật hữu tam thiện, tam niên thiên tất giáng chi phúc.
Hung nhân ngứ ác, thị ác, hành ác, nhất nhật hành tam ác, tam niên thiên tất giáng chi họa. Hồ bất miễn nhi hành chi?
Cho nên, người tốt nói thiện, thấy thiện, làm thiện, mỗi ngày có ba thiện, ba năm ắt trời ban phúc.
Người xấu nói ác, thấy ác, làm ác, mỗi ngày có ba ác, ba năm ắt trời giáng họa.
Sao không cố gắng đi?

100 ngày tuổi thọ
12 năm tuổi thọ
Trời, trăng, sao

Đây là sách Thái THượng Cảm ứng thiên tôi đang đánh dở.XIn dâng lên các bạn trước rồi mong rằng sau đó sẽ hoàn thành:
Vài chương ban đầu của sách:
Quan tốt được phong Văn Xương Đế Quân
Vào thời nhà Tấn,ở Trung Quốc có một vị Đại quan tên là Trương Á,người tỉnh Triết Giang.Nhân vì vào thời xưa giáo dục chưa được phổ cập cho nên ông ta nghĩ rằng việc dạy người học chữ,khuyên người hành thiện là công việc có ý nghĩa nhất.Vì thế bèn xin từ quan,trước hết ông về Tứ Xuyên dạy người biết chữ,đọc sách.Để công việc được thực hiện rộng rãi khứap nơi,ngoài việc hằng nagỳ khuyên người làm thiện,ông còn viết rất nhiều sách chỉ bày phương cách hành thiện lưu truyền hậu thế.Sau khi ông qua đời,rất nhiều học trò đã thọ ân dạy bảo của ông bèn đóng góp công của kiến tạo toà miếu để ghi nhớ công ơn của ông.Về sau,Hy Tông hoàng đế của nhà Đường trong khi chạy nạn đến TỨ Xuyên thì gặp nguy hiểm,nghe nói đã được Trương Á hiển linh phò giúp hoàng đế bình yên vô sự.Nhân đó,sau khi trở về triều,Hy Tông hoàng đế sắc phong Trương Á là Tấn Vương,Văn Xương Quân.Từ đó về sau,mọi người đều gọi Trương Á là Văn Xương Đế Quân.
Trương Á dạy người biết chữ đọc sách,hiểu được phương cách làm người công đức rất lớn.Trời cao cảm đến tấm lòng của người thì hành việc thiện,nhân đó mà được mọi người tôn thờ,danh lưu vạn thế.Như thế có thể biết được trời cao nào cso tiếc lẫn một ai,chỉ cần vun bồi cội đức sẽ có hậu báo,mong mọi người hãy cố gắng tu tạo phước thiện cho cuộc đời tươi đẹp hơn.Làm quan thương dân công đức lớn nhất.
Đời nhà Tần,có một vị đại thần tên là Lâm Hạo,người tỉnh Phúc Kiến.Có lần ông ta phụng mạng đến Thiểm Tây xem xét tiến độ công trình nạo vét lòng sông.Đến nơi,tận mắt nhìn thấy mấy vạn dân phu ngày đêm vét đất,đói rét cực khổ vì thế người chết thây phơi rất nhiều.Tần thuỷ Hoàng được người Trung Quốc gọi là bạo quân,thế nhưng Lâm Hạo vẫn không sợ chết.ông vì thương xót bá tnáh cho nên dũng cảm đến xin hoàng đế cho phép dân phu được luân phiên nghỉ phép,và cho phái lương y đến trị bệnh cho họ.Thế nhưng,Tần Thuỷ Hoàng không những không chuẩn y lời thỉnh cầu mà suýt chút nữa trị tội ông ta.Lâm Hao thân làm quan phụ mẫu,tận mắt thấy cảnh cực khổ của bá tánh mà bản thân phải đành thúc thủ,không cách gì giúp được nên buồn rầu sanh bệnh mà chết.Sau khi chết rồi,thần hồn đi đến minh phủ.Diêm La Vương nói với ông ta rằng: “Ông vì lòng từ bi cứu cả vạn người,nên được phước báo sống thêm năm mươi năm nữa”.Nói xong,liến sai tiểu quỷ đưa Lâm Hạo trở lại trần gian.Lâm Hạo chết rồi sống lại,bèn xin cáo lão hồi hương,sống đời an bình đến già mới chết.Lâm Hạo thương dân,lo cho dân,vì thế không sợ thân mình bị tội,vẫn dũng cảm dâng lời tâu lên vua,thật việc làm khiến cho thần kinh quỷ sợ,công đức rất lớn,và cũng nhân đó thọ thêm được năm mươi năm.Người làm việc thiện tuy số đã hết nhưng nhờ vun tạo phước đức cho nên thọ mạng dài thêm,chỉ trong một niệm mà chuyển đoản mệnh trở thành trường mệnh.Như thế,có thể thấy được hoạ hay phứoc đều do con người tự tạo. Ngược đãi công dịch
Ác báo nhãn tiền
Đời Lương Võ Đế,có vị huyện trưỏng tên là Trương Huyền.Bình nhật,ông ta rất thích tỏ rõ uy quyền,tuỳ ý đánh giết phu dịch.Ông ta thường đi thuyền tuần hành,mỗi lần như vậy chỉ cần thuyền lớn đi chậm,ông ta liền cho rằng phu thuyền không gắng sức,chỉ những việc nhỏ như thế nhưng ông ta cũng lấy cớ đó đánh chết phu thuyền ném xác xuống sông,rất nhiều phu thuyền chỉ vì những chuyện nhỏ nhặt mà bị chết oan.Về sau,có một lần ,Trương Huyền đang bị bệnh cảm mà lại đi thuyền ở trên sông,rồi còn ra lệnh chuẩn bị rượu thịt bày tiệc uống rượu.Trong lúc thuyền đang đi,rượu thịt cũng đã bày ra,bỗng nhiên thấy một con quỷ tóc tai bờm xờm,máu me đầy mặ ở dưới sông vọt lên,nhanh như chớp chụp lấy Trương Huyền ném xuống sông nhận nước đến chết.Mọi người trên thuyền thấy sự việc xảy ra trước mắt ai cũng nói đó là quả báo của việc ngược đãi phu dịch hàng ngày của ông ta.Không có gió làm sao có sóng,không gây nhân làm sao gặt quả,kẻ làm quan mà không biết thương yêu kẻ dưới,lại còn bạo ngược kết oán,lẽ đương nhiên phải chịu ác báo.Kính mong những người làm quan thời nay hãy nhìn đây mà tự răn mình.
Thương yêu thuộc hạ
Tất có thiện báo
Đời nhà Minh,có vị đại quan tên là Hạ Nguyên Cát.Có lần,ông ta nhìn thấy người quan viên do bất cẩn đem nghiên mực đỏ nhầm lên trên thánh chỉ của Hoàng đế,người đó sợ tội nên muốn tự sát.Hạ Nguyên Cát liền nói với người đó 
rằng: “Đừng sợ,ta sẽ có biện pháp giúp anh!”.Nagỳ hôm sau,Hạ Nguyên Cát quỳ xuống tâu với Hoàng thượng: “Thánh chỉ bị hạ thần vô ý làm đổ mực lên trên,tội của hạ thần đáng chết xin Hoàng thượng hạ lệnh xử tội!”.Hoàng thượng cười nói: “Ta phạt ngươi chép lại một cái Thánh chỉ”.Về sau,Hoàng thượng biêts được sự tình,biết ông là người nhân nghĩa liền phong cho Hạ Nguyên Cát làm Hữu thừa tướng.Người có lòng tốt tất có thiện báo.Làm người bề trên nếu như có thể thương yêu thuộc hạ,tuỳ theo chức phận cảu mình mà khéo léo sử dụng phương tiện khoan dung những lỗi lầm của người,nhất định sẽ được mọi người kính phục,mọi việc hung đều được biến thành cát.Kính mong người đời hãy lấy đây làm gương.

Hung bạo thành tánh
Chết không yên ổn
Đời nhà Hán,tỉnh Thiểm Tây,huyện Đồng Xuyên có một huyện trưởng tên là Truơng Tư Hòa.Ông ta tính tình hung bạo,phương pháp quản lý địa phương là:nếu như người phạm tội nhẹ thì đem ra đánh,người phạm tội nặng thì chém đầu.VÌ thế,toàn dân trong huyện ngày đêm đều sống trong lo sợ,ai cũng nói ông ta là Hoạt Diêm Vương.Trưong Tư Hòa có một đứa con trai,nói ra thì cũng kỳ quái.Khi mới sinh ra đã bị câm,điếc lại thêm hai bàn tay không có một ngón.Về sau,Trương Tư Hòa bị một bệnh lạ không có danh y nào chữa khỏi.Chỉ thấy ông ta suốt ngày thất thẩn ngồi dưới đất mà nói những lời không đâu vào đâu,có lúc thì nói có những oan hồn ngày đêm đến tìm ông ta đòi mạng,không lâu sau ông ta bệnh nặng rồi chết.Sau đó,nghe nói vợ con ông ta cũng lưu lạc đất khách quê người rồi bị chết vì đói.

Quả báo theo ta như bóng theo hình,khiến cho người đời không thể không tin nhân quả.Mọi người nên hãy biết rằng nhân quả tuần hoàn mảy may không sai!.

Được của đem trả
Cứu hai mạng người
Đời nhà Minh,Tô Châu có một người tên là La Luân đi lên Nam Kinh dự thi.Anh ta cuỡi ngựa,người thư đồng theo sau.Lúc đang đi trên đường,thư đồng mỉm cười nói: “Hôm qua thật là vận may của mình, ở tại khe nước trước của ngôi nhà kia mình nhặt được một chiếc trâm vàng”.La Luân sau khi hỏi rõ sự tình lập tức cầm cây trâm vàng hpi ngựa trở lại,khi đến nơi thì trời đã tối,chọt nghe bên trong cánh cửa ngôi nhà đó có tiếng khóc của người vang lên,tiếng của một a hoàn nói: “Tôi không ăn trộm,tôi sẽ nhảy xuống giếng để chứng minh sự trong sạch của mình”.Tiếng cảu nữ chủ nhân thì nói: “Tôi không có ngoại tình,tôi sẽ treo cổ để chứng minh”.Rồi lại có tiếng cảu một người đàn ông vừa đánh vừa chửi… La Luân gõ cửa kêu lớn,chủ nhà liền ra mở cửa,LA Luân kể rõ tường tận việc thư đồng nhặt được cây trâm,chủ nhà lúc đó mới giật mình vỡ lẽ,than rằng: “Đa tạ công tử đén kịp,nên đã cứu được tính mạng của vợ tôi cùng với a hoàn!”.Nguyên là cây trâm bị bỏ quên ở trên bồn nước rơi xuống,theo rnãh nước trôi ra bên ngoài,bị thư đồng nhặt được đem đi mới tạo ra cảnh ngộ nhận kinh thiên động địa như trên.Sau đó,La Luân đến Nam Kinh ứng thí và đỗ Trạng Nguyên.

Trẩ lại một chiếc trâm,cứu được hai mạng người,âm đức thật to lớn,phước báo cũng vô cùng.Nguyện những người làm việc thiện hãy cố gắng lên.

Hại người hại mình
Người của đều mất
Đời nhà Minh,vào khoảng niên hiệu Chánh đức,đảo Sùng Minh ở tỉnh Giang Tô,bốn bể đều bị nước bao quanh.Vương Đại là một thuyền phu trên đảo.Có một năm,nhằm vào tháng Bảy,bất ngờ có bão ập đến.Gió to sóng lớn,những cư dân ở miền duyên hải bị nước cuốn trôi và chết rất nhiều,khắp nơi trên sông trôi nổi rất nhiều tài sản của người.Vương Đại chèo thuyền ra sông,vớt lấy các loại tài sản đó,có người kêu cứu ông ta cũng không thèm để ý.Lúc đó,Vương Đại thấy một người con gái đang bị trôi ở trên sông,trong tay ôm một chiếc rương màu đỏ.Vương Đại thấy của liền khởi tham chèo thuyền áp sat đến người con gái đưa tay đoạt lấy chiếc rương và đẩy nàng ta chìm xuống giòng nước chết đuối… Vương Đại mở chiếc rương ra nhìn thấy bên trong là tờ giấy đính hôn của bản thân,lúc ấy mới biết người con gái đó chính là vợ chưa cưói của mình.Từ đó,Vương Đại âu sầu thọ bệnh mà chết.

Vương Đại tham lam tài vật thấy chết không cứu,vì thế mà mất vợ chưa cưới,một mình thọ bệnh chết chẳng có ai bên cạnh.Thật đúng là: “Lưới trời lồng lộng,thưa mà khó lọt”.Kẻ gieo gió phải gặt bão!

CĂN BẢN TU TẬP CHO CÁC NIỆM PHẬT ĐƯỜNG của Tịnh Tông Học Hộihttp://tinhtonghochoi.net/hoat-dong/nen-tang-tu-tap.htmlMột niệm Phật đường tu tập theo cương lĩnh của Tịnh Tông Học Hội dưới tinh thần hướng dẫn của Hòa Thượng Tịnh Không cần hội đủ các điều sau:Các liên hữu phải1. Cần tu tập dựa trên 3 nền tảng:a. Đệ Tử Quyb. Thái Thượng Cảm Ứng Thiên

c. Thập Thiện Nghiệp Đạo

d. Nếu là tu sĩ, thì phải cần thêm Sa Di Luật Nghi

2. Nương theo Ngũ Khoa Tịnh Độ. Năm bộ kinh điển để đọc tụng, tham cứu là:

a. Quán Vô Lượng Thọ

b. Phật Thuyết A Mi Đà Kinh

c. Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh

d. ĐạI Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông Chương

e. Vãng Sanh Luận

3. “Nhất môn thâm nhập, trường kỳ chuyên tu” theo như quy tắc của ngài Lý Bỉnh Nam.

http://niemphat.net/Luan/anquangvs/lysunhanqua.htm

Khi đọc sách tôi có thói quen coi trang ghi bản quyền trước hết, khi coi xong tôi cảm thấy vô cùng ngạc nhiên, Ấn Tổ in những cuốn An Sĩ Toàn Thư, Cảm Ứng Thiên Vựng Biên, Liễu Phàm Tứ Huấn nhiều nhất; tôi thử tính nhẩm số lượng của ba cuốn này cũng phải hơn ba triệu bộ, vào thời đại đó [số lượng] này làm cho người ta vô cùng ngạc nhiên. Lúc đầu tôi cũng chẳng hiểu, một vị Tổ Sư của Tịnh Ðộ Tông chúng ta [tại sao lại làm như vậy]. Liễu Phàm Tứ Huấn chẳng thuộc sách nhà Phật, chẳng phải là kinh Phật, kể như là sách của Nho giáo; Cảm Ứng Thiên và Âm Chất Văn thuộc Ðạo Giáo; ngoài An Sĩ Toàn Thư còn hai thiên Vạn Thiện Tiên Tư, Dục Hải Hồi Cuồng; hai thiên này chuyên giảng về Kiêng Sát, Kiêng Dâm; Thiên cuối cùng là Tây Quy Trực Chỉ nhằm khuyên người niệm Phật cầu sanh Tịnh Ðộ; [Tại sao ngài] in [những sách này] nhiều như vậy? Tôi nghĩ suốt mấy ngày mới hiểu được dụng ý khổ nhọc của Tổ sư.

Muốn cứu vãn xã hội hiện nay, năm nay cách năm bảy mươi bảy đã hai mươi năm, trải qua khoảng thời gian dài như vậy trong xã hội ngày nay chúng ta thể hội vô cùng rõ ràng, chân chánh biết nếu dùng Phật pháp để cứu vãn thế gian, dùng Nho giáo để cứu thế gian thì không kịp nữa. Cũng vào thập niên bảy mươi, Bác sĩ Thang Ân Tỷ nói với Trì Ðiền Ðại Tác ở Nhật Bản rằng trong thế kỷ 21 chỉ có Học thuyết Khổng Mạnh và Phật pháp Ðại Thừa mới có thể giải quyết vấn đề xã hội. Lúc ông nói câu này mọi người cảm thấy rất ngạc nhiên, nhưng hai mươi năm sau nhìn thử xã hội hiện nay thì thiệt đúng như vậy. Chúng ta thử suy nghĩ kỹ xem, Ấn Quang đại sư còn cao minh hơn. Phật pháp Ðại Thừa và Nho Giáo đích thực có thể giải quyết vấn đề, nhưng hai thứ này quá cao siêu, nếu muốn tu học tối thiểu cũng phải mất mười năm, sau mười năm cái thế giới này biến đổi thành như thế nào ai cũng chẳng dám nói, thế nên Ấn Tổ đặc biệt đề xướng Nhân Quả, chúng ta càng nghĩ thì càng có đạo lý.

Nếu con người không biết Phật cũng chẳng sao, không biết Nho giáo cũng chẳng sao, thậm chí không tín ngưỡng tôn giáo cũng chẳng sao, chỉ cần họ biết đạo lý và sự thật của Nhân Quả Báo Ứng thì được rồi. Tại sao vậy? Khi khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác thì họ tự nhiên sẽ cân nhắc cẩn thận, được vậy thì họ có thể cứu mình, cứu nhà mình, cứu xã hội, cứu quốc gia, cứu thế giới, từ đó chúng ta mới chân chánh thể hội được dụng ý khổ nhọc của Tổ Sư. Hết thảy đạo lý thế gian và xuất thế gian không vượt ngoài tâm tánh, hết thảy các sự tướng chẳng ra ngoài nhân quả, cho nên tâm tánh và nhân quả có thể bao gồm hết thảy pháp thế và xuất thế gian.Những năm gần đây, bắt đầu từ năm 1977 tôi rời khỏi Ðài Loan, hoằng pháp tại nước ngoài, trạm đầu tiên là ở Hương Cảng, bao nhiêu năm nay đi đến rất nhiều quốc gia, địa phương, tôi có dịp tiếp xúc với nhiều người trong mọi tầng lớp, mọi ngành nghề, người Trung Quốc, người ngoại quốc cũng rất nhiều. Tôi hỏi họ muốn phát tài không? Muốn chứ, không ai chẳng muốn phát tài cả! Muốn có thông minh trí huệ không? Muốn. Muốn khoẻ mạnh sống lâu không? Muốn chứ. Bất kể quốc tịch chúng ta bất đồng, chủng tộc khác nhau, tín ngưỡng khác nhau, ba thứ kể trên đều là sự ham muốn chung, chẳng có người nào chẳng mong cầu, chẳng nghĩ tưởng đến. Vậy thì làm sao mới có thể đạt được? Cho nên người ta tìm đủ mọi phương pháp, thủ đoạn, nói tóm lại đều là lợi mình hại người, dùng bất cứ thủ đoạn gì cũng vì muốn đạt được mục đích này. Như vậy là sai lầm, lý và tâm tánh trái ngược nhau, sự và nhân quả trái ngược nhau, có thể mong cầu được chăng? Chẳng được.

Tập “Văn Xương Đế Quân Thái Thượng Cảm Ứng” là một cuốn “Thiện Thư” lưu truyền từ rất xa xưa, về sau có người nương theo nguyên tác, thêm bớt một vài nơi rồi đổi tên thành “Âm Chất Quả Báo”, từ đó càng ngày càng được phổ biến rộng rãi.Năm 270 Dương lịch, vào triều nhà Tấn ở Trung Quốc, tỉnh Tứ Xuyên có vị Đại sĩ tên là Trương Á viết ra cuốn sách Thái Thượng Cảm Ứng để khuyến dạy người đời, thế là cuốn sách được lưu truyền từ đó. Đến đời nhà Đường, Hy Tông hoàng đế đã từng sắc phong Trương Á là Tấn Vương, dân gian thì lại tôn xưng là Văn Xương Đế Quân, đền thờ đầu tiên của Văn Xương Đế Quân là ở Thành Đô tỉnh Tứ Xuyên. Cuốn “Thiện Thư” này được lưu truyền liên tục trong các triều đại từ Tấn, Ngụy, Tề, Lương, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh. Cảm tạ thiện tâm chư vị nhân sĩ của các triều đại đã ấn tống phổ biến sách này, bởi vì nhờ đó mà cuốn sách còn lưu truyền được đến ngày nay. Trên đây là thuật lại lịch sử của cuốn sách, qua đó cũng có thể nhận thấy được giá trị của nó như thế nào. Biết bao các bậc hiền nhân quân tử của các thời đại đã dùng sách này giáo dục con em bỏ ác làm lành, dân gian thì đa phần ấn tống sách này và dùng nó làm vật truyền gia, thật đúng là mọi người tích thiện con cháu hiền lương. Bậc làm cha mẹ ai cũng kỳ vọng con mình trở thành chí sĩ hiền nhân, cuốn sách “Thiện Thư” này có thể làm cho con cái tu dưỡng nhân cách bỏ ác làm lành, công hiệu còn hơn cả vạn lời giáo huấn của cha mẹ. Sách này lưu truyền đã hơn một ngàn bảy trăm năm, nay vì muốn cho nó được tiếp tục lưu truyền hậu thế, nên kính cẩn đề xướng ấn tặng, kính mong chư vị thiện hữu tri thức niệm tình chỉ giáo.

http://diendan.daitangkinhvietnam.or…=3205&start=20

__________________

Sách hay cần nên đọc

Một số sách hay(là nền móng cho việc hoc Phật)chia sẽ cùng mọi người.Những quyển sách này theo ý riêng của TL là rất cần thiết cho hàng sơ học,người tu lâu cũng chẳng thể thiếu:

1.“Đệ Tử Quy”:cùng với “Tam Tự Kinh” đây là quyển sách vỡ lòng mà trẻ em thời xưa học.Cái mà Nho Giaó và Phật Giáo nói đến chung quy chỉ là tận hiếu mà thôi.Đây là nên tảng đắp bồi đạo đức để học Nho sau này.Tóm lại có thể làm được tối thiểu 70% thì có tư cách học Nho,làm đệ tử của Khổng Lão Phu Tử(nếu không làm được đến mức này thì không có phần học Nho.Học Phật thì lại càng khỏi nhắc đến nữa).

2.”Văn Xương Đế Quân Âm Chất Văn” – “Thái Thượng Cảm Ứng Thiên” – “Liễu Phàm Tứ Huấn”:Không phải đơn giản khi mà cả đời Ấn Tổ cực lực đề xướng ba quyển sách này,giá trị của nó chỉ có người nào chuyên đọc”Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao” cùng “Gia Ngôn Lục” mới thể hội được.(Đặc biệt đối với TL thì xem “Thái Thượng Cảm Ứng Thiên” là một quyển chú giải của “Thập Thiện Nghiệp Đạo Kinh” ).

3.“Long Thư Tịnh Độ Văn”: Tịnh Tông nhập môn

4.“Nhận Thức Phật Giáo”:Một cái nhìn tổng quát về Phật Giáo(Xem quyển sách này để biết cái gọi là Phật Giáo là gì,cái Phật Giáo mà ta đang theo đó là chánh pháp hay tà đạo).

5.“A Di Đà Kinh Yếu Giải”:Không biết nhận xét ra sao,đành mượn lời Ấn Tổ trong “Gia Ngôn Lục” viết ra vài hàng:”Kinh A Di Đà có bản Yếu Giải do đại sư Ngẫu Ích trước tác, lý – sự đều đạt tới mức cùng cực, là bản chú giải bậc nhất kể từ khi đức Phật nói ra kinh này, diệu cực xác thực, dù cổ Phật tái hiện trong thế gian chú giải lại kinh này cũng chẳng thể hay hơn được! Chớ nên xem thường, hãy tin nhận chắc chắn. “

6.”Mấy Điệu Sen Thanh”:Những câu chuyện vãng sanh của người xưa,lồng trong đó là những thiện hạnh của họ(Quyển sách này cùng với “A Di Đà Kinh Yếu Giải” và “Vô Lượng Thọ Kinh” TL khi đọc có cảm nhận rất sâu sắc,tim gan đau buốt,lệ cứ muốn tuôn rơi).

7.”Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh”:Sỡ dĩ Như Lai hưng xuất thế,duy thuyết Di Đà bổn nguyện hải(Thiện Đạo Đại Sư).Chỉ một câu này đã nói lên đầy đủ lực dụng của bộ kinh này(cũng là bổn hoài của chư Phật Như Lai).

Nếu một lòng hành trì theo những quyển sách này thì dùng cả đời cũng không hết,lại đạt được đại lợi ích mà không cần phải học rộng nghe nhiều.

VĂN XƯƠNG ĐẾ QUÂN ÂM CHẤT VĂN

文 昌帝 君 陰 騭 文

* Lê Anh Minh khảo & dịch chú

I. KHÁI QUÁT THIỆN THƯ TRONG THƯ TỊCH ĐẠO GIÁO

Kinh sách thuần túy khuyến thiện thì phải kể Cảm Ứng Thiên là tối cổ, sau đó là Âm Chất Văn 陰騭文 và Công Quá Cách 功過格. Cát Nguyên Chiêu Trị [1] – sau khi đi khảo sát một vòng Đông Nam Á (trừ Việt Nam), lấy Đài Loan làm trung tâm của khu vực thực địa, năm 1988 – đã tổng hợp 259 chủng loại thiện thư và phân nhóm. Xin kể vài nhóm chính như sau:

  • Thái Thượng Cảm Ứng Thiên 太上感應篇, 6 chủng loại.
  • Quan Thánh Đế Quân Giác Chính Chân Kinh 關聖帝君覺正真經, 6 chủng loại.
  • Thánh Nguyên Giác Chân Kinh 聖源覺真經, 2 chủng loại.
  • Quan Thánh Đế Quân Thân Giáng Tế Thế Linh Nghiệm Cứu Kiếp Kinh Văn 關聖帝君親降濟世靈驗救劫經文, 6 chủng loại.
  • Quan Thánh Đế Quân Giới Dâm Kinh 關聖帝君戒淫經, 4 chủng loại.
  • Văn Xương Đế Quân Tích Tự Công Quá Luật 文昌帝君惜字功過律, 2 chủng loại.
  • Vô Cực Thánh Đế Đại Đỗng Chân Kinh 無極聖帝大洞真經, 2 chủng loại.
  • Liễu Phàm Tứ Huấn 了凡四訓, Liễu Phàm Tứ Huấn Bạch Thoại Giải 了凡四訓白話解, Liễu Phàm Tứ Huấn Ngữ Giải Tinh Biên 了凡四訓語解精編, nội dung lấy Âm Chất Văncủa Viên Liễu Phàm 袁了凡 đời Minh sáng tác (?) làm chủ, tổng cộng 3 chủng loại.
  • Quan Âm Đại Sĩ Cứu Kiếp Tiên Phương 觀音大士救劫仙方, Dược Vương Bồ Tát Bản Sự Phẩm 藥王菩薩本事品, Dược Sư Pha Lê Quang Như Lai Bản Nguyện Công Đức Kinh藥師玻璃光如來本愿功德經, nhóm này dung hợp Phật và Đạo, tổng cộng 44 loại.
  • Thái Dương Thái Âm Chân Kinh 太陽太陰真經, Thái Dương Kinh 太陽經, 6 chủng loại
  • Vô số thiện thư do cơ bút mà ra, gồm Thiên Đường Du Ký 天堂游記, Địa Ngục Du Ký 地獄游記, các toa thuốc trị bệnh, v.v. có 47 chủng loại.
  • Lưu Bá Ôn Sấm 劉伯溫讖, 2 chủng loại, và Vi Thiện Tối Lạc 為善最樂, 1 chủng loại.
Nội dung của các thiện thư này bao gồm:

  • Mối liên quan mật thiết giữa hành thiện và trường sinh.
  • Thiện ác báo ứng.
  • Phương pháp hành thiện.
  • Phương pháp trị bệnh (ở một số quyển).
  • Chấn hưng tôn giáo.

Văn Xương Đế Quân 文昌帝君 với thần Chu Y 朱衣 (bên trái) và thần Khôi Tinh 魁星 (bên phải).
Nguồn: Henri Doré, vol.6, tr.56

Ba thiện thư quan trọng và tối cổ của Đạo giáo vẫn là Cảm Ứng Thiên, Âm Chất Văn, và Công Quá Cách. Bài viết này chủ yếu tìm hiểu Âm Chất Văn.

II. ÂM CHẤT VĂN

Nguyên danh của thiện thư này là Văn Xương Đế Quân Âm Chất Văn 文 昌 帝 君 陰 騭 文. Âm chất là gì? Nơi thiên Hồng Phạm 洪範 của Thư Kinh 書經 (quyển 4: Chu Thư 周書) có ghi lời Vũ Vương 武王 hỏi ông Cơ Tử rằng: «Ô hô Cơ Tử ! Duy thiên âm chất hạ dân, tương hiệp quyết cư. Ngã bất tri kỳ di luân du tự.» 嗚 呼 箕 子 惟 天 陰騭 下 民 相 協 厥 居 我 不 知 其 开 倫 攸 敘 (Ôi, Cơ Tử ! Trời sắp đặt âm thầm cho kẻ hạ dân, giúp đỡ để được nên người có đức tốt.Ta không biết bậc thường có thứ tự thế nào). [2] Từ điển Từ Hải giải: chất là ấn định, âm là âm thầm (chất, định dã; âm, mặc dã 騭定也陰默也). Thiên âm chất hạ dân là ý nói trời âm thầm ấn định và sắp đặt cho dân chúng. Người đời dùng từ âm chất như từ âm đức陰德 [3] Như vậy từ cổ đại đã có quan niệm Thiên Mệnh và trong Âm Chất Văn, từ âm chất cũng hàm ý Thiên nhân cảm ứng nữa.

Âm Chất Văn được hình thành vào thời gian nào? Có nhiều thuyết khác nhau. Đạo Tạng Tập Yếu 道藏輯要 (Tinh tập 星集) thu thập bản Âm Chất Văn Chú 陰騭文注 của Chu Khuê朱珪 đời Thanh; trong đó ghi rằng: «Âm Chất Văn hữu Tống Giao chi sự, đương tác ư Tống đại.» 陰 騭 文 有 宋 郊 之 事 當 作 於 宋 代 (Âm Chất Văn có chép truyện Tống Giao, nên phải được trứ tác vào đời Tống). Cách suy luận của Chu Khuê là nội chứng pháp khảo chứng 內證法考證, nghĩa là khảo chứng dựa vào tình tiết trong văn bản. Trong Âm Chất Văn có ghi điển cố «Cứu nghĩ trúng trạng nguyên chi tuyển» 救蟻中狀元之選 (cứu bầy kiến mà trúng tuyển trạng nguyên) nói về đời Tống có hai anh em Tống Giao 宋郊 và Tống Kỳ 宋祁 [4] đi thi. Một nhà sư xem tướng bảo rằng Tống Kỳ (em) sẽ đỗ đầu còn Tống Giao (anh) sẽ đỗ thấp hơn. Về sau, nhà sư xem lại diện tướng của Tống Giao lại thì kinh hãi vì thấy phúc tướng đại tăng, hỏi ra mới biết Tống Giao vừa cứu sống một bầy kiến trong cơn mưa bão. Quả nhiên, sau đó Tống Giao đỗ trạng nguyên còn Tống Kỳ đỗ thứ 10. Vì chuyện xảy ra vào đời Tống nên Chu Khuê cho rằng Âm Chất Văn được viết vào đời Tống. Nhiều tác giả đời Thanh cũng chấp nhận thuyết này. Trong danh mục những thiện thư mà Cát Nguyên Chiêu Trị khảo sát trong vùng Đông Nam Á ta thấy có nhóm thiện thư Liễu Phàm Tứ Huấn lấy tác phẩm Âm Chất Văn do Viên Liễu Phàm đời Minh sáng tác làm chủ. [5] Vậy là thêm một thuyết cho rằng Viên Liễu Phàm sáng tác Âm Chất Văn.

Viên Liễu Phàm 袁了凡 tên thật là Viên Hoàng 袁黃, tự là Khôn Nghi 坤儀, hiệu là Liễu Phàm, sống vào đời Minh, quê ở Gia Thiện 嘉善 thuộc tỉnh Chiết Giang 浙江. Ông tinh thông Phật giáo và Đạo giáo, chú trọng phép tĩnh tọa dưỡng sinh. Trứ tác nổi tiếng của ông là Nhiếp Sinh Tam Yếu 攝生三要 và Viên Liễu Phàm Tiên Sinh Tĩnh Tọa Yếu Quyết 袁了凡先生靜坐要訣. Quyển Tĩnh Tọa Yếu Quyết có 3 thiên: Dự Hành 豫行, Tu Chứng 修證, và Điều Tức 調息. Thiên Dự Hành giới thiệu những điều cần yếu của người luyện tĩnh tọa, trọng điểm làđiều tâm 調心, hệ duyên thu tâm 系緣收心, tá sự luyện tâm 借事煉心, tĩnh xứ dưỡng khí 靜處養氣, náo xứ luyện thần 鬧處煉神. Thiên Tu Chứng thảo luận sự tự thể nghiệm của việc tọa thiền. Thiên Điều Tức giới thiệu 3 phương pháp điều tức của Phật Giáo Thiên Thai Tông 天台宗 (tức là Lục Diệu Môn 六妙門, Thập Lục Đặc Thắng 十六特勝, Thông Minh Quán 通明觀).[6] Như vậy có lẽ là Viên Liễu Phàm đã chú giải Âm Chất Văn chăng?

Holmes Welch chỉ nói về Âm Chất Văn như sau: «Âm Chất Văn thậm chí ít tính chất Đạo giáo hơn [Cảm Ứng Thiên]. Sách khuyên người tụng đọc phải xem xét Tam giáo một cách không thiên vị. Bảng liệt kê những việc thiện ác trong sách đọc lên thấy như thể trích lược từ Cảm Ứng Thiên như: thương xót cô nhi, chú ý đi không dẫm lên con sâu cái kiến, tránh vọng ngữ, v.v. Nếu ta âm thầm gắng làm những việc ấy và chẳng mong cầu được đáp đền gì hết thì ta hoặc con cháu ta sẽ được phúc lộc.» (The Yin Chih Wen is even less specifically Taoist. It urges that the reader «impartially observe the Three Doctrines» [Buddhism, Taoism, and Confucianism]. Its list of virtues and vices reads like little more than an extract from the Kan Ying P’ien: compassion for orphans, care not to walk on worms and ants, avoidance of improper language, and so on)[7] Như vậy H. Welch cũng chẳng nói chi đến tác giả của Âm Chất Văn, nhưng trong bảng niên biểu phụ lục cuối sách ông dè dặt với dấu (?) ghi Cảm Ứng Thiên xuất hiện khoảng năm 1100 (Nam Tống), sau Ngộ Chân Thiên 悟真篇 của Trương Bá Đoan 張伯端, [8] và Âm Chất Văn được ghi khoảng năm 1200 (Bắc Tống). Tửu Tỉnh Trung Phu 酒井忠夫, học giả Nhật Bản, cho rằng Âm Chất Văn do một sĩ nhân nào đó sáng tác vào cuối đời Minh. [9] Lý Cương thấy nội dung của Âm Chất Văn rõ ràng là phóng tác và bổ sung cho Cảm Ứng Thiên, nên bảo rằng Âm Chất Văn phải xuất hiện sau Cảm Ứng Thiên không lâu, có thể là cuối đời Nguyên, và tác giả là một đạo sĩ nào đó thác danh Văn Xương Đế Quân. Văn Xương Đế Quân là sao Văn Khúc (Văn Khúc Tinh 文曲星) chủ quản văn chương, phúc lộc, công danh, phú quý của con người, nên đối tượng chủ yếu mà Âm Chất Văn muốn khuyến thiện chính là giới sĩ đại phu (tức là nho sĩ). [10] Còn đối tượng mà Cảm Ứng Thiênmuốn khuyến thiện là mọi giai tầng trong xã hội. Như vậy Âm Chất Văn bổ sung cho Cảm Ứng Thiên là tăng gia yêu cầu tu dưỡng đạo đức của giới sĩ phu, phản ánh khát vọng của dân chúng. [11]

Khai kinh là lời của Văn Xương Đế Quân: «Ngô nhất thập thất thế vi sĩ đại phu thân, vị thường ngược dân khốc lại, tế nhân chi nan, cứu nhân chi cấp, mẫn nhân chi cô, dung nhân chi quá, quảng hành âm chất, thượng cách thương khung. Nhân năng như ngã tồn tâm, Thiên tắc tứ nhữ dĩ phúc.» 吾 一 十 七 世 為 士大 夫 身 未 嘗 虐 民 酷 吏 , 濟 人 之 難 , 救 人 之 急, 憫 人 之 孤 , 容 人 之 過 , 廣 行 陰 騭 , 上 格 蒼 穹 . 人 能 如 我 存 心 , 天 則 賜 汝 以 福 (Ta 17 kiếp hóa thân làm sĩ đại phu, chưa hề ngược đãi dân chúng và nha lại; ta giúp người lúc khốn khó, cứu người khi khẩn cấp, xót thương trẻ côi cút, khoan dung lầm lỗi của người, thi hành âm chất khắp nơi, nên được đặc cách lên cõi trời. Ai biết giữ lòng gìn tâm như ta, Trời sẽ ban phúc cho). Lời này đánh trúng vào tâm lý khát vọng phúc lộc công danh của giới nhân sĩ. Để noi gương của Văn Xương Đế Quân làm sĩ đại phu, trạng nguyên, tễ tướng đời đời họ phải tích lũy vun bồi âm đức. Khi Trời ban phúc, chẳng những bản thân mình cũng hưởng mà con cháu cũng được cậy nhờ, như lời kinh bảo: «Cận báo tắc tại tự kỷ, viễn báo tắc tại nhi tôn.» 近 報 則 在 自己 , 遠 報 則 在 兒 孫 (Báo ứng gần thì ngay nơi bản thân mình, báo ứng xa thì nơi con cháu). Tích lũy âm đức thì phải hành thiện âm thầm chẳng để ai hay biết, chỉ có Trời biết mà thôi. Thiện là phúc, vì thiện triệu vời phúc, sinh sôi bất tuyệt, thiện vô lượng thì phúc vô lượng, nên kinh bảo: «Bách phúc biền trăn, thiên tường vân tập, khởi bất tùng âm chất trung đắc lai giả tai!» 百 福 駢 臻 , 千 祥 雲 集 , 豈 不 從 陰 騭 中 得來 者 哉 (Trăm phúc cùng đến, ngàn may mắn tụ về, đó chẳng phải là từ âm chất mà có được hay sao?)

Sự báo ứng, thiện báo và ác báo, theo Cảm Ứng Thiên là như bóng theo hình, tức là báo ứng nhãn tiền. Nhưng trong đời sống hằng ngày nhiều người vẫn chưa bị lý lẽ ấy thuyết phục vì vẫn thấy nhiều kẻ gian ác mà ngày càng vinh thân phì gia hoặc lắm người hiền lương mà vẫn bị đọa đầy lầm than khốn khổ. Âm Chất Văn đã bổ sung cho lý lẽ trên rằng: «Cận báo tắc tại tự kỷ, viễn báo tắc tại nhi tôn» 近 報 則 在 自 己 , 遠 報 則 在 兒 孫 (Báo ứng gần thì ngay nơi bản thân mình, báo ứng xa thì nơi con cháu). Nghĩa là sự báo ứng là hiển nhiên, hành thiện thì thiện báo, tác ác thì ác báo, nhưng còn một yếu tố thời gian xen vào dẫn đến hai loại báo ứng là cận báo và viễn báo. Tương truyền đời Tống có ông Trình Nhất Đức 程一德 chữ nghĩa chẳng mấy làu thông nhưng tu nhân tích đức, ấn tống kinh khuyến thiện. Đêm nằm mộng thấy Văn Xương Đế Quân bảo ông rằng Thượng Đế cảm lòng lành của ông nên ban vinh hiển cho con cháu của ông. Quả nhiên hậu duệ của Trình Nhất Đức là Trình Minh Đạo 程明道 và Trình Y Xuyên 程伊川 là hai nhà Lý học lừng danh của Trung Quốc. Những cố sự như vậy thì nhiều vô kể. Có người còn đem thuyết định mệnh của Nho gia để giải thích thêm tại sao làm thiện mà gặp họa và làm ác thì được phúc. Nếu bản mệnh đã mỏng, làm thiện chỉ giảm bớt cái họa dầy sẵn có, nên người ta ngỡ làm thiện mà gặp họa. Nếu bản mệnh đã dầy, làm ác chỉ giảm bớt phúc dầy sẵn có, nên người ta ngỡ làm ác mà gặp phúc là vậy. Thực chất thiện ác báo ứng cũng như phóng ảnh: phóng rọi càng xa thì ảnh càng lớn, hoặc như nợ nần: để càng lâu thì nợ chồng chất càng nhiều.

Dường như Âm Chất Văn ra đời trong thời tao loạn, nhân tâm điên đảo, đồi phong bại tục. Người đời miệng đọc tứ thư ngũ kinh mà lòng chẳng tin, mồm nói lời đạo đức mà không chùn tay gây ác. Cho nên kinh bảo: «Đế Quân mẫn chi, cố thần đạo thiết giáo, phi loan hành hóa, sử nhân tri thần minh chiêu bố, sâm liệt ư thượng, thiện ác cát hung chi báo, xác nhiên bất sảng, ký kỳ tín úy hối ngộ, dĩ tự bạt ư hãm tỉnh dã» 帝 君 憫 之 , 故 神 道 設 教 , 飛 鸞 行 化 , 使 人 知 神 明 昭 布 , 森 列 於 上 , 善 惡 吉 凶 之 報 , 確 然 不 爽 , 冀 其 信 畏 悔 悟 , 以 自 拔 於 陷 井 也 (Đế Quân xót thương [người đời] nên đem thần đạo ra giảng dạy, cỡi chim loan đi hóa độ người đời, khiến cho họ biết rằng thần linh minh hiển khắp nơi, dầy đặc trên trời; rằng lẽ báo ứng thiện ác lành dữ luôn đúng, cho nên họ chớ vi phạm; và mong họ tin, sợ, sám hối, giác ngộ để tự cứu vớt mình lên khỏi giếng sâu lấp vùi vậy).

Dường như có sự khủng hoảng đạo đức của giới thống trị nên tác giả Âm Chất Văn đứng về phía người hiền khốn cùng (cùng khốn thiện nhân) mà nhắn nhủ kẻ cai trị: «Chính trực đại Thiên hành hóa, từ tường vị quốc cứu dân» 正 直 代 天 行 化 慈祥 為 國 救 民 (Hãy ngay thẳng thay Trời hành đạo và giáo hóa dân, thương xót bao dung vì nước cứu dân), «vật ỷ quyền thế nhi nhục thiện lương» 勿 依 權 勢 而 辱 善 良 (chớ cậy quyền thế mà làm nhục người lương thiện). Và cũng dạy bảo kẻ phú hào: «Gia phú đề huề thân thích, tuế cơ chẩn tế lân bằng, đấu xứng tu yếu công bình, bất khả khinh xuất trọng nhập, nô bộc đãi chi khoan thứ, khởi nghi bị trách hà cầu» 家 富 提 攜 親 戚 , 歲 饑 賑 濟 鄰 朋 , 斗 稱 須 要 公 平 , 可 輕 出 重 入 , 奴 僕 待 之 寬 恕 , 豈 宜 備 責 荷 求 (Nhà giàu thì cùng chia sớt với người thân thích, năm đói kém phải cứu giúp hàng xóm và bạn bè, cái đấu cây cân phải cho công bằng, không thể cân đo cho người thì nhẹ mà cân đo cho mình thì nặng, đối đãi tôi tớ khoan dungsao lại phải trách móc và đòi hỏi khe khắt nơi họ), và «vật thị phú hào nhi khi cùng khốn» 勿 恃 富 豪 而 欺 窮 困 (chớ cậy mình là giàu có mà khinh rẻ kẻ khốn cùng ).

Âm Chất Văn cũng nhấn mạnh trung hiếu như những thiện thư khác. Thời của Khổng Tử, chữ hiếu đã ngầm chứa chữ trung, bởi ngay trong chương một của Hiếu Kinh, [12] Khổng Tử dạy Tăng Sâm rằng: «Ngô ngứ nhữ thân thể phát phu thụ chi phụ mẫu, bất cảm hủy thương, hiếu chi thủy dã. Lập thân hành đạo dương danh ư hậu thế dĩ hiển phụ mẫu, hiếu chi chung dã. Phù hiếu thủy ư sự thân, trung ư sự quân, chung ư lập thân.» 吾 語 汝 身 體 髮 膚受 之 父 母 , 不 敢 毀 傷 , 孝 之 始 也 . 立 身 行 道 揚 名 於後 世 以 顯 父 母 , 孝 之 終 也 . 夫 孝 始 於 事 親 , 中 於 事 君 , 終 於 立 身 (Ta bảo ngươi cái thân thể da tóc này là nhận lãnh của cha mẹ, không dám hủy hoại cho thương tổn, ấy là bắt đầu của đạo hiếu. Lập thân hành đạo nêu danh đời sau để làm rạng rỡ mẹ cha, ấy là điều chót của đạo hiếu. Nói chung, hiếu bắt đầu là phụng sự cha mẹ, giữa là phục vụ vua, sau chót là lập thân). [13] Tuy không nói thẳng, nhưng sự quân 事君 (phục vụ vua) chính là trung 忠 vậy. Âm Chất Văn giải nghĩa thêm: «Trung chủ hiếu thân, kính huynh tín hữu, báo đáp tứ ân, vật nhân tư cừu sử nhân huynh đệ bất hòa, vật nhân tiểu lợi sử nhân phụ tử bất mục» 忠 主 孝 親 , 敬 兄 信 友 , 報 答 四 恩 , 勿 因 私 仇 使 人 兄弟 不 和 , 勿 因 小 利 使 人 父 子 不 睦 (Trung với vua, hiếu với cha mẹ, kính trọng anh, tin cậy bạn bè, báo đáp bốn ân, [14] chớ vì cừu hận riêng mà làm cho anh em người khác bất hoà, chớ vì mối lợi vặt mà làm cha con người khác nghịch nhau). Kinh bảo: «Đế Quân dĩ trung hiếu vi bản.» 帝 君 以 忠 孝 為 本 ([Văn Xương] Đế Quân lấy trung hiếu làm gốc). Trung hiếu là căn bản đạo đức của Nho gia nhưng cũng được Đạo gia coi trọng. Lý Thúc Hoàn李叔還 nói: «Đạo giáo thị dĩ trung hiếu vi bản, dĩ kính thiên pháp tổ lợi vật tế nhân vi vụ.» 道 教 是 以 忠 孝 為 本 , 以 敬 天 法 祖 利 物濟 人 為 務 (Đạo giáo lấy trung hiếu làm gốc, lấy kính trọng Trời- noi theo pháp tắc tổ tiên- gây lợi cho vật- cứu giúp người mà làm nhiệm vụ). [15]

Âm Chất Văn cũng dạy con người bảo vệ môi trường sinh thái, đặc biệt không giết canh ngưu 耕牛 là trâu bò giúp ta cày ruộng: «Cấm hoả mạc thiêu sơn lâm, vật đăng sơn nhi võng cầm điểu, vật lâm thủy nhi độc ngư hà, vật tể canh ngưu.» 禁 火 莫 燒 山 林 , 勿 登 山 而 网 禽 鳥 , 勿 臨 水 而 毒 魚 蝦 , 勿 宰 耕 牛 (Cấm lấy lửa đốt núi rừng, chớ lên núi giăng lưới bắt chim chóc, chớ xuống nước dùng thuốc độc bắt cá tôm, chớ giết trâu cày). Đó là lòng từ bi giới sát của Phật gia. Kinh dạy thêm: «Hoặc mãi vật nhi phóng sinh, hoặc trì trai nhi giới sát, cử bộ thường khán trùng nghĩ.» 或 買 物 而 放 生, 或 持 齋 而 戒 殺 , 舉 步 常 看 蟲 蟻 (Hoặc là mua loài vật để phóng sinh, hoặc ăn chay để tròn giới cấm sát sanh, bước chân đi thường xem kỹ kẻo đạp nhầm con sâu cái kiến). Cảm Ứng Thiên chỉ dạy thương yêu loài vật, Âm Chất Văn tích cực cụ thể hóa lòng từ bi ấy là khuyên ta phải ăn chay. Không trực tiếp sát sanh mà còn ăn mặn khác nào bỏ tiền thuê người sát sanh, tức là gián tiếp sát sanh đó thôi. Trì trai chính là giữ trọn vẹn giới cấm sát sanh vậy.

Âm Chất Văn cũng dung hợp tam giáo, trung hiếu lập thân cứu nhân tế chúng là bổn phận con nhà Nho, nhưng cũng cần quan tâm tu dưỡng theo Tiên đạo hoặc tu hành theo đạo Phật, hay là in kinh, xây dựng, tu bổ chùa chiền: «Hoặc phụng chân triều đẩu, hoặc bái phật niệm kinh, ấn tạo kinh văn, sáng tu tự viện.» 或 奉 真 朝 斗 , 或 拜 佛 念 經 , 印 造 經 文 , 創 修 寺 院 (Hoặc thờ phụng tiên gia và triều kiến sao Bắc Đẩu, hoặc lạy Phật niệm kinh, in ấn kinh sách, sáng lập và tu bổ chùa chiền).

Kinh còn dạy phải có những hành động thiết thực giúp ích giao thông công cộng: «Tiển ngại đạo chi kinh trăn, trừ đương đồ chi ngõa thạch, tu sổ bách niên kỳ khu chi lộ, tạo thiên niên lai vãng chi kiều, điểm dạ đăng dĩ chiếu nhân hành, tạo hà thuyền dĩ tế nhân độ, tu kiều thông đạo vi thiện hữu thịnh danh.» 剪 礙 道 之 荊 榛 , 除 當 途 之 瓦 石 , 修 數 百 年崎 嶇 之路 , 造 千 年 來 往 之 橋 , 點 夜 燈 以 照 人 行 , 造 河 船 以 濟 人 渡 , 修 橋 通 道 為 善 有盛 名 (Chặt bớt cây cối gai góc cản trở đường đi, dẹp bỏ gạch ngói nằm giữa đường, tu sửa đường gập ghềnh khúc khuỷu mấy trăm năm, xây cầu kiều cho muôn vạn người qua lại, đốt đèn soi đường cho người đi đêm tối, làm tàu thuyền trợ giúp người vượt sông, sửa cầu thông đường làm việc thiện thì nổi tiếng nhiều).

Âm Chất Văn  Cảm Ứng Thiên cùng nói đến việc thiện việc ác, nhưng Âm Chất Văn nhấn mạnh chúng thiện phụng hành, còn Cảm Ứng Thiên nhấn mạnh chư ác mạc tác. Âm Chất Văn tuy ảnh hưởng kém hơn Cảm Ứng Thiên nhưng cả hai cũng tác động nhất định đến đời sống tâm lý của nhân dân Trung Quốc. Những thoại bản tiểu thuyết thời Minh Thanh thường lấy chủ đề là nhân quả báo ứng thiện ác đáo đầu cũng là nhằm thõa mãn tâm lý khát vọng của quần chúng đương thời.

Tại Việt Nam, không rõ giới nho sĩ đã biết đến tác phẩm Âm Chất Văn tự bao giờ. Nhưng trong kho sách Hán Nôm còn lưu giữ được, chúng ta thấy có tác phẩm Âm Chất Văn Chú陰騭文註 của Lê Quý Đôn (1726-1784) trọn bộ hai quyển. Theo Trần Văn Giáp, [16] bài đề từ của Phan Huy Chú trong tác phẩm này cho biết Lê Quý Đôn chú giải Âm Chất Văn dựa theo hai bộ sách: (1) Đan Quế Tịch 丹桂藉 của Hoàng Chính Nguyên 黃正元 vào năm Càn Long 乾隆 26 (1761) và (2) Âm Chất Văn Chú 陰騭文註 (hai quyển) của Tống Tư Nhân 宋思仁 năm Càn Long 41 (1776). Hai bản Âm Chất Văn Chú của Lê Quý Đôn mà hiện nay còn giữ được đã khắc in năm Minh Mạng 20 (1839) và năm Tự Đức 16 (1863); in và trữ tại đền Ngọc Sơn (Hà Nội). Ngoài ra còn có Âm Chất Văn Diễn Ca 陰騭文演歌 của Lê Quý Thận 黎貴慎 (cháu của Lê Quý Đôn, rể của Phan Huy Ích).

III. DỊCH VÀ CHÚ ÂM CHẤT VĂN [17]

1. 帝 君 曰 : 吾 一 十 七 世 為 士 大 夫〪身 未 嘗 虐 民 酷 吏〪濟 人 之 難〪救 人 之 急〪憫 人 之 孤〪容 人 之 過〪廣 行 陰 騭〪上 格 蒼 穹〪人 能 如 我存 心〪天 必 賜 汝 以 福〪

Đế Quân viết: Ngô nhất thập thất thế vi sĩ đại phu, thân vị thường ngược dân khốc lại, tế nhân chi nan, cứu nhân chi cấp, mẫn nhân chi cô, dung nhân chi quá, quảng hành âm chất, thượng cách thương khung. Nhân năng như ngã tồn tâm, Thiên tất tứ nhữ dĩ phúc. (Ta 17 kiếp hóa thân làm sĩ đại phu, chưa hề ngược đãi dân chúng và nha lại; ta giúp người lúc khốn khó, cứu người khi khẩn cấp, khoan dung lầm lỗi của người, thi hành âm chất khắp nơi, nên được đặc cách lên cõi trời. Ai biết giữ lòng gìn tâm như ta, Trời sẽ ban phúc cho.) = The Lord says: For seventeen generations I have been incarnated as a high official, and I have never oppressed the people or my subordinates. I have saved people from misfortune, helped people in need, shown pity to orphans, and forgiven people’s mistakes. I have extensively practiced the Silent Way of Recompense and have penetrated Heaven above. If you can set your minds on things as I have set mine, Heaven will surely bestow blessings upon you.

2. 於 是 訓 於 人 曰 : 昔 于 公 治 獄〪大 興 駟 馬 之 門〪竇 氏 濟 人〪高 折 五 枝 之 桂〪救 蟻 中 狀 元 之 選〪埋 蛇 享 宰 相 之 榮〪

Ư thị huấn ư nhân viết: Tích Vu công trị ngục đại hưng tứ mã chi môn; Đậu thị tế nhân cao chiết ngũ chi chi quế; cứu nghĩ trúng trạng nguyên chi tuyển; mai xà hưởng tể tướng chi vinh. (Thế nên ta dạy người đời rằng: Ngày xưa có Vu công [hiền từ] giữ ngục, về sau con [là Vu Định Quốc] nên thừa tướng; [18] [đời Tống có Tống Giao] [19] cứu bầy kiến khỏi chết đuối mà đỗ trạng nguyên; người họ Đậu [tức Đậu Yên Sơn] do cứu người mà sau thành văn quan cao tột; [20] có kẻ chôn xác rắn mà sau nên tể tướng vẻ vang.[21] = Therefore, I pronounce these instructions to mankind, saying … [22]

3. 欲 廣 福 田〪須 憑 心 地〪行 時 時 之 方 便〪作 種 種 之 陰 功〪利 物 利 人〪修 善 修 福〪

Dục quảng phúc điền, tu bằng tâm địa, hành thời thời chi phương tiện, tác chủng chủng chi âm công, lợi vật lợi nhân, tu thiện tu phúc. (Muốn rộng mở ruộng phước phải cậy trông tấm lòng của mình, luôn thi hành những tiện ích cho đời, tạo muôn việc âm đức, lợi cho muôn vật và con người, làm thiện làm phước.) = Whoever wants to expand his field of happiness, let him rely on his moral nature. Do good work at all times, and practice in secret meritorious deeds of all kinds. Benefit living creatures and human beings. Cultivate goodness and happiness.

4. 正 直 代 天 行 化〪慈 祥 為 國 救 民〪

Chính trực đại Thiên hành hóa, từ tường vị quốc cứu dân. (Hãy ngay thẳng thay Trời hành đạo và giáo hóa dân, thương xót bao dung vì nước cứu dân.) = Be honest and straight, and, on behalf of Heaven, promote moral reform. Be compassionate and merciful and, for the sake of the country, save the people.

5. 忠 主 孝 親〪敬 兄 信 友〪或 奉 真 朝 斗〪或 拜 佛 念 經〪報 答 四 恩〪廣 行 三 教〪

Trung chủ hiếu thân, kính huynh tín hữu, hoặc phụng chân triều đẩu, hoặc bái phật niệm kinh, báo đáp tứ ân, quảng hành Tam giáo. (Trung với vua, hiếu với cha mẹ, kính trọng anh, tin cậy bạn bè, hoặc thờ phụng tiên gia và triều kiến sao Bắc Đẩu, hoặc lạy Phật niệm kinh, báo đáp bốn ân, [23] thi hành rộng khắp giáo lý của Tam giáo là Nho-Thích-Đạo.) = Be loyal to your ruler and filial to your parents. Be respectful toward elders and truthful to friends. Obey the purity [of Taoism] and worship the Northern Constellation; or revere the scriptures and recite the holy name of the Buddha. Repay the four kindnesses [done to us by Heaven, earth, the sovereign, and parents]. Extensively practice the three religions.

6. 濟 急 如 濟 涸 轍 之 魚〪救 危 如 救 密 羅 之雀〪

Tế cấp như tế hạc triệt chi ngư, [24] cứu nguy như cứu mật la chi tước. (Giúp kẻ nguy cấp như thể [giúp] con cá nằm trong vết xe khô cạn nước, cứu kẻ lâm nguy như thể [giúp] con chim sẻ đang vướng lưới dầy.) = Help people in distress as you would help a fish in a dried-up rut. Free people from danger as you would free a sparrow from a fine net.

7. 矜 孤 恤 寡〪敬 老 憐 貧〪措 衣 食 周 道 路 之 饑 寒〪施 棺 槨 免 屍 骸 之 暴 露〪

Căng cô tuất quả, kính lão lân bần, thố y thực chu đạo lộ chi cơ hàn, thi quan quách miễn thi hài chi bộc lộ. (Thương xót cô nhi và quả phụ, kính trọng người già, thương người nghèo khó, xếp đặt y phục và lương thực để chu cấp kẻ lỡ đường đói lạnh, bố thí quan tài để tránh cho kẻ chết khỏi bị phơi bày thi thể.) = Be compassionate to orphans and kind to widows. Respect the aged and have pity on the poor. Collect food and clothing and relieve those who are hungry and cold long the road. Give away coffins lest the dead of the poor be exposed.

8. 家 富 提 攜 親 戚〪歲 饑 賑 濟 鄰 朋〪斗 稱 須 要 公 平〪可 輕 出 重 入〪奴 僕 待 之 寬 恕〪豈 宜 備 責 荷 求〪

Gia phú đề huề thân thích, tuế cơ chẩn tế lân bằng, đấu xứng tu yếu công bình, bất khả khinh xuất trọng nhập, nô bộc đãi chi khoan thứ, khởi nghi bị trách hà cầu. (Nhà giàu thì cùng chia sớt với người thân thích, năm đói kém phải cứu giúp hàng xóm và bạn bè, cái đấu cây cân phải cho công bằng, không thể cân đo cho người thì nhẹ mà cân đo cho mình thì nặng, đối đãi tôi tớ khoan dungsao lại phải trách móc và đòi hỏi khe khắt nơi họ?) = If your own family is well provided for, extend a helping hand to your relatives. If the harvest fails, relieve and help your neighbors and friends. Let measures and scales be accurate, and do not give less in selling or take more in buying. Treat your servants with generosity and consideration; why should you be severe in condemnation and harsh in your demands?

9. 印 造 經 文〪創 修 寺 院〪捨 藥 材 以 拯 疾 苦〪施 茶 水 以 解 渴 煩〪

Ấn tạo kinh văn, sáng tu tự viện, xả dược tài dĩ chửng tật khổ, thí trà thủy dĩ giải khát phiền. (In ấn kinh sách, sáng lập và tu bổ chùa chiền, đem tiền bạc và thuốc men cứu vớt kẻ khổ đau bệnh tật, bố thí nước trà giúp người giải cơn khát.) = Write and publish holy scriptures and tracts. Build and repair temples and shrines. Distribute medicine to alleviate the suffering of the sick. Offer tea and water to relieve the distress of the thirsty.

10. 或 買 物 而 放 生〪或 持 齋 而 戒 殺〪舉 步 常 看 蟲 蟻〪

Hoặc mãi vật nhi phóng sinh, hoặc trì trai nhi giới sát, cử bộ thường khán trùng nghĩ. (Hoặc là mua loài vật để phóng sinh, hoặc ăn chay để tròn giới cấm sát sanh, bước chân đi thường xem kỹ kẻo đạp nhầm con sâu cái kiến.) = Buy captive creatures and set them free, or hold fast to vegetarianism and abstain from taking life. Whenever taking a step, always watch for ants and insects.

11. 禁 火 莫 燒 山 林〪點 夜 燈 以 照 人 行〪造 河 船 以 濟 人 渡〪勿 登 山 而 网 禽 鳥〪勿 臨 水 而 毒 魚 蝦〪勿 宰 耕 牛〪

Cấm hoả mạc thiêu sơn lâm; điểm dạ đăng dĩ chiếu nhân hành, tạo hà thuyền dĩ tế nhân độ, vật đăng sơn nhi võng cầm điểu, vật lâm thủy nhi độc ngư hà, vật tể canh ngưu (Cấm lấy lửa đốt núi rừng; hãy đốt đèn soi đường cho người đi đêm tối, làm tàu thuyền trợ giúp người vượt sông, chớ lên núi giăng lưới bắt chim chóc, chớ xuống nước dùng thuốc độc bắt cá tôm, chớ giết trâu cày.) = Prohibit the building of fires outside [lest insects be killed] and do not set mountain woods or forests ablaze. Light lanterns at night to illuminate where people walk. Build river boats to ferry people across. Do not go into the mountain to catch birds in nets, nor to the water to poison fish and shrimps. Do not butcher the ox that plows the field.

12. 勿 棄 字 紙〪勿 謀 人 之 財 產〪勿 妒 人 之 技 能〪勿 淫 人 之 妻 女〪勿 唆 人 之 爭 訟〪勿 壞 人 之 名 利〪勿 破 人 之 婚 姻〪勿 因 私 讎 使 人 兄 弟 不 和 〪勿 因 小 利 使 人 父 子 不 睦〪勿 依 權 勢 而 辱 善 良〪勿 恃 富 豪 而 欺 窮 困 〪

Vật khí tự chỉ, [25] vật mưu nhân chi tài sản, vật đố nhân chi kỹ năng, vật dâm nhân chi thê nữ, vật toa nhân chi tranh tụng, vật hoại nhân chi danh lợi, vật phá nhân chi hôn nhân, vật nhân tư thù sử nhân huynh đệ bất hòa, vật nhân tiểu lợi sử nhân phụ tử bất mục, vật ỷ quyền thế nhi nhục thiện lương, vật thị phú hào nhi khi cùng khốn. (Chớ vất bỏ giấy có chữ, chớ mưu chiếm tài sản của người, chớ ganh tỵ tài năng của người khác, chớ gian dâm với vợ và con gái của người, chớ xúi dục người khác tranh chấp và kiện tụng, chớ phá hoại thanh danh và quyền lợi người khác, chớ phá hoại hôn nhân của người, chớ vì tư thù mà làm cho anh em người khác bất hoà, chớ vì mối lợi vặt mà làm cha con người khác nghịch nhau, chớ cậy quyền thế mà làm nhục người lương thiện, chớ cậy mình là phú hào mà khi rẻ kẻ khốn cùng.) = Do not throw away paper with writing on it. Do not scheme for others’ property. Do not envy others’ skill or ability. Do not violate people’s wives or daughters. Do not stir up litigation others. Do not injure others’ reputation or interest. Do not destroy people’s marriages. Do not, on account of personal enmity, create disharmony between brothers. Do not, because of a small profit, cause father and son to quarrel. Do not misuse your power to disgrace the good and the law-abiding. Do not presume upon your wealth to oppress the poor and needy.

13. 善 人 則 親 近 之〪助 德 行 於 身 心〪惡 人 則 遠 避 之〪杜 災 殃 於 眉 睫〪常 須 隱 惡 揚 善〪不 可 口 是 心 非〪

Thiện nhân tắc thân cận chi, trợ đức hạnh ư thân tâm; ác nhân tắc viễn tỵ chi, đỗ tai ương ư mi tiệp; [26] thường tu ẩn ác dương thiện, [27] bất khả khẩu thị tâm phi. (Hãy thân cận người hiền đức, họ sẽ trợ giúp thêm đức hạnh cho ta; hãy lánh xa kẻ ác, nhờ đó ta tránh được tai ương trước mắt; hãy luôn tuyên dương điều thiện và ngăn trừ điều ác của người; chớ có bằng mặt mà chẳng bằng lòng.[28] = Be close to and friendly with the good; this will improve your moral character in body and mind. Keep at a distance from the wicked; this will prevent imminent danger. Always conceal people’s vices but proclaim their virtue. Do not say «yes» with your mouth and «no» in your heart.

14. 剪 礙 道 之 荊 榛〪除 當 途 之 瓦 石〪修 數 百 年 崎 嶇 之 路〪造千 萬 人 往 來 之 橋〪垂 訓 以 格 人 非〪損 資 以 成 人 美〪作 事 須 循 天 理〪出 言 要 順 人 心〪

Tiển ngại đạo chi kinh trăn, [29] trừ đương đồ chi ngõa thạch, tu sổ bách niên kỳ khu chi lộ,[30] tạo thiên vạn nhân vãng lai chi kiều, [31] thùy huấn dĩ cách nhân phi, tổn tư dĩ thành nhân mỹ, [32] tác sự tu tuần thiên lý, xuất ngôn yếu thuận nhân tâm. (Chặt bớt cây cối gai góc cản trở đường đi, dẹp bỏ gạch ngói nằm giữa đường, tu sửa đường gập ghềnh khúc khuỷu mấy trăm năm, xây cầu kiều cho muôn vạn người qua lại, để lời khuyên nhủ nhằm sửa lầm lỗi của người, chịu hao tốn tài của để người khác được tốt đẹp, làm việc gì cũng noi theo lẽ trời, lời nói thì phải hợp lòng người.)= Cut brambles and thorns that obstruct the road. Remove bricks and stones that lie in the path. Put in good condition roads that have been rough for several hundred years. Build bridges over which thousands and tens of thousands of people may travel. Leave behind you moral instructions to correct people’s faults. Donate money to bring to completion the good deeds of others. Follow the principle of Heaven in your work. Obey the dictates of the human heart in your words.

15. 見 先 哲 於 羹 牆〪慎 獨 知 於 衾 影〪諸 惡 莫 作〪眾 善 奉 行〪永 無 惡 曜 加 臨〪常 有 吉 神 擁 護〪

Kiến tiên triết ư canh tường, [33] thận độc tri ư khâm ảnh, [34] chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, [35] vĩnh vô ác diệu gia lâm, thường hữu cát thần ủng hộ. (Ngưỡng mộ các bậc hiền triết thuở xưa dường như các ngài luôn hiển hiện trước mắt, thận trọng khi ở một mình và không hổ thẹn với chính mình; chớ làm các điều ác, hãy làm mọi điều thiện, vĩnh viễn sao xấu không chiếu vào vận mệnh [của mình], các thiện thần thường ở bên cạnh và bảo vệ cho.) = [Admire the ancient sages so much that you] see them while eating soup or looking at the wall. [Be so clear in conscience that] when you sleep alone, you are not ashamed before your bedding, and when you walk alone, you are not ashamed before your own shadow. Refrain from doing any evil, but earnestly do all good deeds. Then there will never be any influence or evil stars upon you,but you will always be protected by good and auspicious spirits.

16. 近 報 則 在 自己〪遠 報 則 在 兒 孫〪百 福 駢 臻〪千 祥 雲 集〪豈 不 從 陰 騭 中 得 來者 哉〪

Cận báo tắc tại tự kỷ, viễn báo tắc tại nhi tôn, bách phúc biền trăn, thiên tường vân tập, khởi bất tùøng âm chất trung đắc lai giả tai! (Báo ứng gần thì nơi bản thân mình, báo ứng xa thì nơi con cháu, trăm phúc cùng đến, ngàn may mắn tụ về, đó chẳng phải là từ âm chất mà có được hay sao?) = Immediate rewards will come to your own person, and later rewards will reach your posterity. A hundred blessings will come as if drawn by horses, and a thousand fortunes will gather about you like clouds. Do not all these things come through the Silent Way of Recompense?

GHI CHÚ: Vì Âm Chất Văn có nhiều dị bản, những câu sau đây [36] không có trong bản mà tôi dùng, có thể nằm trong một bản khác, nhưng tôi không dám tự tiện chèn các câu này vào bản đang dùng, hy vọng sẽ bổ sung sau khi tìm được bản đầy đủ hơn:

1. 帝 君 憫 之〪故 神 道 設 教〪飛 鸞 行 化〪使 人 知 神 明 昭 布〪森 列 於 上〪善 惡 吉 凶 之 報〪確 然 不 爽〪冀 其 信 畏 悔 悟〪以 自 拔 於 陷 井 也〪

Đế Quân mẫn chi, cố thần đạo thiết giáo, phi loan hành hóa, sử nhân tri thần minh chiêu bố, sâm liệt ư thượng, thiện ác cát hung chi báo, xác nhiên bất sảng, ký kỳ tín úy hối ngộ, dĩ tự bạt ư hãm tỉnh dã. (Đế Quân xót thương [người đời] nên đem thần đạo ra giảng dạy, cỡi chim loan đi hóa độ người đời, khiến cho họ biết rằng thần linh minh hiển khắp nơi, dầy đặc trên trời; rằng lẽ báo ứng thiện ác lành dữ luôn đúng, cho nên họ chớ vi phạm; và mong họ tin, sợ, sám hối, giác ngộ để tự cứu vớt mình lên khỏi giếng sâu lấp vùi vậy).

2. 帝 君 以 忠 孝 為 本〪

Đế Quân dĩ trung hiếu vi bản. ([Văn Xương] Đế Quân lấy trung hiếu làm gốc).

3. 修 橋 通 道 為 善 有 盛 名〪

Tu kiều thông đạo vi thiện hữu thịnh danh. (Sửa cầu thông đường làm việc thiện thì nổi tiếng nhiều).

LÊ ANH MINH

         CHÚ THÍCH

[1] Cát Nguyên Chiêu Trị 吉元昭治, Đạo Giáo Dữ Bất Lão Trường Thọ Y Học 道教與不老長壽醫學 (nguyên tựa: 道教と不老長壽の醫學), bản dịch Hán văn của Dương Vũ 楊宇, Thành Đô Xuất Bản Xã, 1992, tr. 81.

[2] Kinh Thư 書經, Thẩm Quỳnh dịch, Trung Tâm Học Liệu Bộ Giáo Dục Saigon xb., 1973, tr. 220.

[3] Từ điển Từ Hải 辭海, Trung Hoa Thư Cục, 1948, tr. 1414.

[4] Tống Giao tức Tống Tường 宋庠 (996-1066) cùng với em là Tống Kỳ [998-1061] là hai văn nhân nổi tiếng đời Tống, đời gọi là Nhị Tống 二宋 (anh là Đại Tống, em là Tiểu Tống). Hai anh em cùng đỗ tiến sĩ, Tống Kỳ hạng nhất, Tống Giao hạng ba. Chương Hiến Thái Hậu 章獻太后 không muốn em đứng trên anh, nên đặt Giao thứ nhất, Kỳ thứ mười. Hai anh em cùng nắm chức vụ cao trong triều. Giao không ưa thanh sắc, đọc sách không mệt; trứ tác gồm: Văn Tập 文集 (40 quyển), Quốc Ngữ Bổ Âm 國語補音 (3 quyển), Kỷ Niên Thông Phổ紀年通譜 (12 quyển), v.v. Kỳ giỏi về nghị luận, cùng Âu Dương Tu 歐陽修 tu chỉnh Đường Thư 唐書 trên 10 năm; trứ tác gồm: Văn Tập 文集 (100 quyển), Đại Lạc Đồ 大樂圖 (2 quyển), Bút Ký 筆記, v.v. (Xem Dương Ấm Thâm 楊蔭深, Trung Quốc Văn Học Gia Liệt Truyện 中國文學家列傳, Hongkong, 1962, tr. 243, và Đàm Gia Định 譚嘉定, Trung Quốc Văn Học Gia Đại Tự Điển 中國文學家大辭典, quyển thượng, mục từ 2008 và 2017).

[5] Nguyên văn: «Kỳ nội dung quân dĩ Minh đại Viên Liễu Phàm sở trứ đích Âm Chất Văn vi chủ.» 其 內 容 均 以 明 代袁 了 凡 所 著 的 陰 騭 文 為 主 (Sđd. tr. 84).

[6] Ngô Gia Tuấn 吳家駿, Giản Minh Khí Công Từ Điển 簡明氣功辭典, Bắc Kinh, 1993, tr. 109-111.

[7] H. Welch, Taoism: The Parting of the Way, Boston, 1967, tr.141.

[8] Trương Bá Đoan (987-1082) là một đạo sĩ đời Bắc Tống, quê ở Thiên Thai 天台 (nay là Lâm Hải 臨海 thuộc Chiết Giang 浙江), tự là Bình Thúc 平叔 và Dụng Thành 用誠, hiệu là Tử Dương 紫陽. Ông học rộng, nơi Tứ Xuyên gặp chân nhân (Lưu Hải Thiềm 劉海蟾?) truyền dạy đan đạo.Trương Bá Đoan là một trong 5 tổ sư của Nam Tông (Trương Bá Đoan, Thạch Thái 石泰, Tiết Đạo Quang 薛道光, Trần Nam 陳楠, Bạch Ngọc Thiềm 白玉蟾). Ngộ Chân Thiên được viết năm 1075, gồm trên 100 bài thi, từ, ca khúc, lời lẽ ẩn áo giảng về phép luyện nội đan, được xem là tổ kinh 祖經 (kinh gốc) của Nam Tông. Đến nay có trên 30 nhà chú giải Ngộ Chân ThiênNgộ Chân Thiên cùng Chu Dịch Tham Đồng Khế 周易參同契(của Ngụy Bá Dương魏伯陽 đời Đông Hán) được xem là kinh điển chính tông của phép tu nội đan.

[9] Khanh Hy Thái 卿希泰 chủ biên, Trung Quốc Đạo Giáo 中國道教, Thượng Hải, 1996, quyển 2, tr. 126.

[10] Holmes Welch nhận xét rất đúng về Âm Chất Văn rằng: Âm Chất Văn có ít tính chất Đạo giáo hơn Cảm Ứng Thiên.

[11] Lý Cương 李剛Đạo Giáo Sinh Mệnh Luân Lý 道教生命倫理, Tứ Xuyên Nhân Dân xbx, 1994, tr. 151.

[12] E.R. Hughes cho rằng Hiếu Kinh do môn đệ của Tăng Tử viết vào khoảng thế kỷ III tcn. Xem E.R. Hughes, Chinese Philosophy in the Classical Times, Oxford, 1960, tr. 112.

[13] Hiếu Kinh 孝經, thư pháp Hạ Tri Chương 賀知章 (659-744) đời Đường, Nhân Dân Mỹ Thuật xb., Bắc Kinh, 1986. Xem thêm Trung Quốc Hiếu Văn Hóa Mạn Đàm 中國孝文化漫談của Ninh Nghiệp Cao 寧業高, Ninh Nghiệp Tuyền 寧業泉, và Ninh Nghiệp Long 寧業龍 hợp trứ, Trung Ương Dân Tộc Đại Học xbx, Bắc Kinh, 1995, tr. 231.

[14] Tứ ân: ân trời đất, ân vua, ân cha mẹ, và ân thầy dạy 天地君親師之恩典 (Thiên địa, quân, thân, sư chi ân điển)

[15] Lý Thúc Hoàn 李叔還, Đạo Giáo Yếu Nghĩa Vấn Đáp Tập Thành 道教要義問答集成, Hong Kong,1971, tr.2.

[16] Trần Văn Giáp, Tìm Hiểu Kho Sách Hán Nôm, tập 2, Nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1990, tr.235-236). Rất tiếc tôi chưa có dịp tham khảo được hai bản nói trên của Lê Quý Đôn.

[17] Bản Âm Chất Văn tôi dùng được in trong quyển Văn Xương Đế Quân Đại Đỗng Chân Kinh 文昌帝君大洞真經, khắc in năm Hàm Phong 函豐, Đinh Tỵ, tức là năm 1857 dưới triều vua Văn Tông 文宗 nhà Thanh. Bản Âm Chất Văn này gồm ba trang không chú giải và không phân đoạn. Để tiện theo dõi, tôi chia riêng thành từng câu. Phần tiếng Anh là trích từ bản dịch “The Silent Way of Recompense” trong Sources of Chinese Tradition, Vol. II, của WM. Theodore de Bary, Wing-tsit Chan, và Chester Tantr. 290-293.

[18] Điển cố Tứ mã môn 駟馬門 hay Tứ mã chi môn 駟馬之門: Hán Thư chép truyện Vu Định Quốc: Cha của Vu Định Quốc 于定國 là Vu Công 于公 giữ ngục nhân từ. Ông nói: «Thiếu cao đại môn lư, lịnh dung tứ mã cao cái xa; ngã trị ngục đa âm đức, tử tôn tất hữu hưng giả.» 少 高 大 門 閭 , 令 容 駟 馬 高 蓋 車 ; 我 治 獄 多 陰 德 , 子 孫 必 有 興 者 (Thuở nhỏ công nhà cao rộng, xe bốn ngựa mui cao qua lọt; ta giữ ngục làm được nhiều âm đức, con cháu ắt có đứa nên danh phận lớn). Về sau con là Vu Định Quốc làm thừa tướng, còn cháu là Vĩnh 永 làm ngự sử đại phu. Xem Từ Hải, tr. 1506.

[19] Xem cước chú 4.

[20] Điển cố chiết quế: Theo Tấn Thư, truyện về Khích Sân 郤詵: «Sân thi đỗ, Vũ Đế hỏi Sân tự đánh giá bản thân ra rao. Sân trả lời tuy mình đỗ đầu nhưng cũng chỉ là cành quế trong rừng quế, là phiến ngọc ở Côn Sơn mà thôi (Do quế lâm chi nhất quế, côn sơn chi phiến ngọc 猶 桂 林 之 一 桂 , 昆 山 之 片 玉). Vua cười.» Từ đó có điển cố chiết quế là thi đỗ cao, các biến thể của điển này là: chiết quế chi 折桂枝, phàn quế 攀桂, quế chiết nhất chi 桂折一枝, quế lâm nhất chi 桂林一枝, tiên quế 仙桂, đắc quế 得桂, Khích chi 郤枝, Sân chi 詵枝, Khích Sân vinh 郤詵榮, Khích Sân lộ 郤詵路. Thường Dụng Điển Cố Từ Điển 常用典故詞典, Thượng Hải Từ Thư xbx, 1985, tr. 358, cho rằng đây là nguồn gốc của điển cố chiết quế, tức là có từ đời Tấn. Từ điển Từ Hải, tr. 564, bảo điển cố chiết quế thông dụng từ đời Đường cho đến nay. Nếu đúng như vậy, tôi nghĩ rằng tác phẩm Văn Xương Đế Quân (vì dùng điển cố này nên) không thể xuất hiện trước đời Đường (618-907).

[21] Chôn xác rắn (mai xà) 埋蛇: Tôn Thúc Ngao 孫叔敖 thuở nhỏ đi chơi gặp hai xác rắn, bèn chôn cất tử tế. Sau ông làm quan lệnh doãn của nước Sở, được dân coi trọng là người nhân đức. Xem điển cố này trong Từ Hải, tr. 320.

[22] Bản tiếng Anh trích dịch câu «Ư thị huấn ư nhân viết…» 於是訓於人曰. Phần điển cố thì bỏ qua.

[23] Tứ ân: Xem chú thích 14.

[24] Điển cố lấy trong Trang Tử Nam Hoa Chân Kinh 莊子南華真經, bài Phụ Ngư 鮒魚 (trong Ngoại Vật 外物). Trang Tử vay lúa Giám Hà Hầu 監河侯, Giám từ chối khéo. Trang giận nói mát: Trước khi đến vay nợ, Trang đã trông thấy một con cá nhỏ (tự xưng là thủy thần biển Đông) đang vùng vẫy trong vết bánh xe xin một ít nước để thoát chết. Trang hứa sau khi ông sang chơi với các vua Ngô Việt, rồi sẽ ngăn nước sông mà giúp con cá. Cá bảo đợi đến lúc đó Trang sẽ gặp nó ở hàng bán cá khô. Nguyên văn trong Nam Hoa Chân Kinh là: Xa triệt trung hữu phụ ngư 車轍中有鮒魚 (con cá nhỏ trong vết xe lún đất). Âm Chất Văn trích điển này, ý nói cứu người ngay lúc hoạn nạn mới là cứu giúp thiết thực.

[25] Đức Văn Tuyên Thánh Sư dạy phải coi trọng giấy có chữ: «Chính Thánh Sư lãnh sứ mạng thiêng liêng khai hóa văn tự trên khắp nước trên địa cầu này. Bởi thế chẳng những Hán tự, chí những chữ nào trên mặt địa cầu này cũng là do Thánh Sư hóa kiếp để chỉ giáo mở mang dân trí. Bởi thế người biết tu hành cần phải trọng giấy chữ, bất cứ là chữ nước nào, không nên làm những điều ô uế trong chữ mà phạm tội, đến những kiếp sau khó mà thông minh trí huệ được.» Xem Thánh Huấn Hiệp Tuyển, quyển I, Tòa Thánh Tiên Thiên Châu Minh xb, Saigon 1961, tr. 143.

[26] Đỗ 杜: ngăn trở, đồng nghĩa với trở tắc 阻塞. Mi là lông mày, tiệp là lông mi. Mi tiệp thường được dùng tỉ dụ con mắt; ở đây chỉ sự kề cận trước mắt. Hàn Phi Tử 韓非子, chương Dụng Nhân 用人, nói: «Bất khử mi tiệp chi họa nhi mộ Bôn-Dục chi tử.» 不去眉睫之禍而慕賁育之死 (Không dẹp trừ cái họa trước mắt mà lại đi hâm mộ cái chết của những kẻ dũng sĩ như Mạnh Bôn và Hạ Dục).

[27] Có hai nhóm từ hay dùng lẫn trong các thiện thư như Cảm Ứng Thiên và Âm Chất VănẨn ác dương thiện 隱惡揚善 (che giấu điều ác, phô bày điều thiện; như người đời hay nói: Tốt khoe xấu che) và Át ác dương thiện 遏惡揚善 (ngăn trở điều ác, tuyên dương điều thiện). Chủ trương của tôi là nên chọn nhóm từ sau, ý nói việc ác phải bị ngăn trừ chứ không nên che giấu. Tôi cũng chú giải điểm này trong Cảm Ứng Thiên y như vậy.

[28] «Khẩu thị tâm phi» 口是心非 cũng có thể dịch: “Miệng thì nói điều hay điều phải, mà lòng thì toan tính điều sái quấy.”

[29] Kinh trăn: phiếm chỉ bụi cây gai rậm rạp.

[30] Kỳ khu: đường núi mấp mô khó đi.

[31] Ý «Làm cầu kiều cho người qua lại» này được trích dẫn vào văn bia ở chùa Cầu (Hội An), bài bi văn: Trùng Tu Lai Viễn Kiều được khắc năm Gia Long 16 (tức 1817). Tác giả là Khê Đình Bá Đinh Tường (Đốc học dinh Trực Lệ, Quảng Nam).

[32] Luận Ngữ 論語 (Nhan Uyên 顏淵, câu 16): «Quân tử thành nhân chi mỹ, bất thành nhân chi ác. Tiểu nhân phản thị.» 君 子 成 人 之 美 , 不 成 人 之 惡 . 小 人 反 是 (Bậc quân tử thành tựu những điều tốt đẹp cho người chứ không gieo điều ác cho người. Kẻ tiểu nhân thì ngược lại).

[33] Canh tường 羹牆: Hậu Hán Thư chép truyện về Lý Cố 李固: «Tích Nghiêu tồ chi hậu, Thuấn ngưỡng mộ tam niên, tọa tắc kiến Nghiêu ư tường, thực tắc đổ Nghiêu ư canh.» 昔 堯 殂 之 後 , 舜 仰 慕 三 年 , 坐 則 見 堯 於 牆 , 食 則 睹 堯 於 羹 (Xưa, suốt ba năm sau khi vua Nghiêu mất, vua Thuấn luôn ngưỡng mộ ngài; khi ngồi thì thấy hình ảnh ngài trên tường vách; khi ăn cơm thì thấy hình ảnh ngài trong tô canh). Ý câu này trong Âm Chất Văn: Ta cần thật lòng ngưỡng mộ các vị thánh hiền thuở xưa như luôn thấy hình ảnh các ngài trước mắt. Xem Từ Hải, tr. 1073.

[34] Khâm ảnh: Tống sử chép truyện về Thái Nguyên Định 蔡元定: «Độc hành bất quý ảnh, độc tẩm bất quý khâm.» 獨 行 不 愧 影 , 獨 寢 不 愧 衾 (Đi một mình không thẹn với cái bóng của mình, ngủ một mình không thẹn với cái chăn của mình). Xem Từ Hải, tr. 1211.

[35] Câu «Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành» này trích dẫn từ Cảm Ứng Thiên.

[36] Được Lý Cương trích dẫn trong: Lý Cương 李剛 Đạo Giáo Sinh Mệnh Lý Luận 道教生命理論, Tứ Xuyên Nhân Dân xbx, 1994.

Cảm Ứng Thiên là kinh điển quan trọng của Đạo giáo Trung Quốc. Kể từ khi Đạo Cao Đài thành lập, quyển kinh này cũng được sử dụng (với tên là Kinh Cảm Ứng) trong bổn đạo. Đặc biệt là Cao Đài Chiếu Minh có tôn chỉ «nhất kinh nhất pháp» 一經一法Nhất pháp tức là bí pháp tu luyện của bản môn, còn nhất kinh tức là Kinh Cảm Ứng. Vì mối quan hệ về kinh điển đó, bài viết này góp phần tìm hiểu Cảm Ứng Thiên của Đạo giáo Trung Quốc, tức Kinh Cảm Ứng của Đạo Cao Đài.

Thiện thư 善書 hay khuyến thiện thư 勸善書 (books of edification; morality tracts) là một đặc chủng trong thư tịch Đạo giáo. Đó là những kinh sách dạy làm lành lánh dữ. Cát Nguyên Chiêu Trị 吉元昭治, tiến sĩ y khoa Nhật Bản, đứng trên góc độ y học mà cho rằng thiện thư cũng là một liệu pháp của Đạo giáo, cùng phát triển với các liệu pháp dân gian như: lên đồng (đồng cơ 童乩 còn gọi là vũ loan 武鸞), cầu cơ bút (phù cơ 扶乩 hay phù loan 扶鸞 [1] còn gọi là văn loan 文鸞), dược thiêm 藥簽 (những lá bùa để trị bệnh), thảo dược 草藥 (thuốc bằng cây cỏ rễ lá), v.v. [2] Thường thì y học chỉ trị thể xác chứ khó trị được tâm tình (y thân bất y tâm 醫身不醫心) nhưng thiện thư có thể y tâm. Người trì tụng thiện thư dường như đã tìm được một chỗ dựa tâm linh trong cuộc sống bất trắc phù du. Họ tin rằng mọi họa phúc hiện tại đều từ bản thân mình đã gieo mầm trong quá khứ thậm chí trong tiền kiếp, cho nên họ lựa chọn thái độ kham nhẫn trong nghịch cảnh. Sám hối và hành thiện để trông cậy một tương lai tốt đẹp hơn, thậm chí làm được 1300 điều thiện thì có thể trở thành thiên tiên 天仙 như Cảm Ứng Thiên nói. Như vậy khoái lạc và khổ đau chỉ là những tâm cảnh có giá trị tương đối. Người trong nghịch cảnh sẽ vơi bớt đau khổ khi nương cậy vào thiện thư: «Tổn ngã nghịch ngã tiêu nghiệt duyên» 損我逆我消孽緣 (Ai làm hại ta, nghịch với ta, là để tiêu diệt những nhân duyên oan nghiệt trong quá khứ). Hiểu như vậy lòng sẽ thanh thản, không còn khổ tâm nữa, vì đã sòng phẳng với quá khứ.

Kinh sách Đạo giáo nói chung đều có tính khuyến thiện. Thái Bình Kinh 太平經 của thời Đông Hán và Bão Phác Tử Nội Thiên 抱朴子內篇 của thời Ngụy Tấn chẳng hạn đều bao hàm những tư tưởng khuyến thiện mặc dù nội dung chủ yếu của những kinh này là dạy luyện đạo thành tiên. Nhưng muốn thành thần tiên thì trước hết phải là người hiền lành lương thiện. Làm người chưa xong lẽ nào thành tiên cho được? (Dục tu thiên đạo, tiên tu nhân đạo. Nhân đạo bất tu, thiên đạo viễn hĩ 欲修天道先修人道人道不修天道遠矣 = Muốn tu đạo Trời [đạo giải thoát] thì trước tiên phải cho tròn đạo làm người. Học làm người chưa xong, đạo giải thoát còn xa lắm vậy).

Kinh sách thuần túy khuyến thiện thì phải kể Cảm Ứng Thiên là tối cổ, sau đó là Âm Chất Văn 陰騭文 và Công Quá Cách 功過格. Bài viết này sơ lược về Cảm Ứng Thiên.[3]

I. TÁC GIẢ VÀ XUẤT XỨ CỦA CẢM ỨNG THIÊN

Cảm Ứng Thiên 感應篇 là một thiên văn chương khuyến thiện rất cổ xưa trong vô số các kinh sách khuyến thiện của Trung Quốc. Người đời cực kỳ tôn trọng Cảm Ứng Thiên mà gọi là Kinh Cảm Ứng (trong Đạo Cao Đài gọi là Kinh Cảm Ứng). Nguyên tựa kinh này là Thái Thượng Cảm Ứng Thiên 太上感應篇. Tựa kinh tiết lộ tác giả là Đức Thái Thượng Lão Quân 太上老君 tức Thái Thượng Đạo Tổ 太上道祖, nhưng vấn đề không đơn giản như vậy.

Cảm Ứng Thiên có tự bao giờ và tác giả là ai? Quyển Thái Thượng Cảm Ứng Thiên Linh Dị Ký 上感應篇靈異記 (Ghi chép về những linh nghiệm kỳ lạ do trì tụng Cảm Ứng Thiên) của ngài Vô Tích Vạn Quân Thúc Hào 無錫萬鈞叔豪 ghi rằng: «Tự Tấn dĩ lai, y thử tu thân thành chân giả đa nhân, phú quý giả dĩ bất kế kỳ số hĩ, phổ thiên hạ nhai cù lý hạng, vô bất truyền bố.» 自 晉 以 來 , 依 此 修 身 成 真 者 多 人 , 富 貴 者 已 不 計 其 數 矣 , 普 天 下 街 衢 里 巷 , 無 不 傳 布 ([Kinh này xuất hiện] từ đời Tấn đến nay, người noi theo đó tu thân thành tiên (chân nhân) thì rất nhiều, người trở nên phú quí thì vô số kể; kinh này phổ biến khắp nơi). [4] Câu văn ngắn gọn này cho biết đôi điều: (1) Kinh xuất hiện từ đời Tấn (265-420), đến nay cũng đã hơn 1500 năm; (2) kinh này rất linh nghiệm giúp người trì tụng trở nên phú quí hoặc tu luyện thành chân nhân; và (3) vì sự linh nghiệm ấy kinh được phổ biến khắp nơi.

Trung Hoa Đạo Học Thông Điển [5] không khẳng định thời gian hình thành Cảm Ứng Thiên mà chỉ dè dặt nói rằng: «Thái Thượng Cảm Ứng Thiên vi Đạo gia tu chân giả, xiển thuật Thái Thượng chi tông chỉ cập kỳ thực tiễn đích trọng yếu trứ tác, tha đối Tấn đại chi tiền đích Đạo gia trứ tác Ngọc Linh Kinh, Dịch Nội Giới, Xích Tùng Tử Kinh, Hà Đồ Ký, Mệnh Phù đẳng trứ tác quân hữu khái quát. (…) Bản thư chi tác giả dữ thành thư niên đại cứ khảo chứng quân bất khả tri, chỉ năng tùng Tống Thư Nghệ Văn Chí, Đạo Tạng Tinh Hoa Lục trung đắc tri hữu thử thiên chương tồn mục, tịnh tác vi Đạo gia học phái cáo giới dữ khuyến thiện tối đại vi thư.» 太 上 感 應 篇 為 道 家 修 真 者,闡 述 太 上 之 宗 旨 及 其 實 踐 的 重 要 著 作,它 對 晉 代 之 前 的 道 家 著 作 玉 鈴 經, 易 內 戒 , 赤 松 子 經 , 河 圖 記 , 命 符 等 著 作 均 有 概 括. […] 本 書 之 作 者 與 成 書 年 代, 據 考 證 均 不 可 知,只 能 從 宋 書 藝 文 誌, 道 藏 精 華 錄 中 得 知 有 此 篇 章 存 目, 并 作 為 道 家 學 派 兌 誡 與 勸 善 的 最 大 之 書. (Thái Thượng Cảm Ứng Thiên là trứ tác quan trọng do các Đạo gia tu chân trình bày rõ ràng tông chỉ của Đức Thái Thượng và thực tiễn của tông chỉ đó.Cảm Ứng Thiên cùng có sự khái quát [về phép tu luyện] như các trứ tác của Đạo gia trước đời Tấn như Ngọc Linh Kinh, Xích Tùng Tử Kinh, Hà Đồ Ký, Mệnh Phù, v.v.[…] Theo sự khảo chứng, tác giả kinh và thời gian bắt đầu xuất hiện kinh này đều chưa được biết rõ, chỉ có thể theo Tống Thư Nghệ Văn Chí và Đạo Tạng Tinh Hoa Lục thì biết Cảm Ứng Thiên đã được ghi chép trong đó rồi, và kinh này quả thực là quyển sách cực lớn nhằm khuyến thiện và răn [tín đồ] các phái Đạo gia giữ gìn giới luật).

Trung Quốc Đạo Giáo [6] nhận định vấn đề này như sau: «Thái Thượng Cảm Ứng Thiên gọi tắt là Cảm Ứng Thiên. Tác giả không xác định đượcNghệ Văn Chí trong Tống Sử [Tống Thư] có chép một bản Cảm Ứng Thiên của Lý Xương Linh 李昌齡. Quyển Quận Trai Độc Thư Phụ Chí 郡齋讀書附誌 có ghi 8 quyển Thái Thượng Cảm Ứng Thiên của Giáp Giang Ẩn Giả 夾江隱者 tức Lý Xương Linh 李昌齡. Hiện nay Thư Viện Bắc Kinh đang tàng trữ một bộ 8 quyển khắc vào đời Nguyên 元 (1279-1368), một bản và một bộ 8 quyển khắc vào đời Minh 明 (1368-1644). Chính Thống Đạo Tạng 正統道藏 bộ Thái Thanh 太清 chép 30 quyển Thái Thương Cảm Ứng Thiên, phụ đề «Lý Xương Linh truyền, Trịnh Thanh Chi tán» 李昌齡傳鄭清之讚 (Lý Xương Linh truyền lại, Trịnh Thanh Chi khen ngợi). Đời Thanh 清 (1644-1911), Thái Thượng Cảm Ứng Thiên Chú 太上感應篇注 của Huệ Đống 惠棟 và Thái Thượng Cảm Ứng Thiên Toản Nghĩa 太上感應篇纘義 của Du Việt 愈樾 đều căn cứ vào Tống Sử mà cho rằng Lý Xương Linh là tác giả của Cảm Ứng Thiên. Bản Cảm Ứng Thiên trong Đạo Tạng có chép lời tựa của Trần Hoán Tử 陳奐子 viết năm Thiệu Định 紹定 thứ 6 (1233) vua Lý Tông 理宗 đời Nam Tống 南宋 bảo rằng Lý Xương Linh chỉ là người chú thích Cảm Ứng Thiên. Gần đây, một học giả Nhật Bản tên là Cát Cương Nghĩa Phong 吉岡義豐 (Yoshioka Yoshitoyo) cho rằng tác giả Cảm Ứng Thiên là Lý Thạch 李石, quê Tứ Xuyên 四川, từng viết quyển Phương Chu Tập方舟集 vào năm đầu tiên của đời Nam Tống. Nói vậy nhưng chứng cứ không đầy đủ.»

Tửu Tỉnh Trung Phu 酒井忠夫 (Nhật Bản) viết Trung Quốc Thiện Thư Nghiên Cứu 中國善書研究 (nghiên cứu sách khuyến thiện của Trung Quốc) khẳng định Lý Xương Linh là tác giả của Thái Thượng Cảm Ứng Thiên: «Thiện thư là sách khuyên người đời hành thiện. Nói chung đó là sách khuyến thiện từ đời Tống về sau, được tặng không bán, phổ biến đạo đức theo kinh điển Nho giáo đồng thời bao quát những điều thiện thông thường mà đa số quần chúng dễ dàng tiếp thu. (…) Vì tính cách đại chúng của thiện thư, tác giả của thiện thư thường là những ẩn sĩ có khả năng lý giải tâm lý dân chúng. Thiện thư đầu tiên là Thái Thượng Cảm Ứng Thiên do Lý Xương Linh sáng tác vào đầu đời Nam Tống. Từ đó về sau, thiện thư nhiều vô kể. Giữa đời Minh và Thanh là thời kỳ cực thịnh của thiện thư.» [7]

Tác giả Lý Cương 李剛 [8] sau khi so sánh chương Vi Chỉ 微旨 trong Bão Phác Tử Nội Thiên 抱樸子內篇 với Cảm Ứng Thiên đã nhận định tác giả của Cảm Ứng Thiên như sau: «Tư tưởng trong Cảm Ứng Thiên phát sinh từ (tư tưởng) của các đạo sĩ thời Hán-Ngụy. Cho đến đời Bắc Tống, với một bối cảnh xã hội mới, một đạo sĩ nào đó đã gia công cắt xén, thay đổi tên họ, và lưu truyền sách cho người đời. Trong Đạo giáo, người viết sách rất thích mượn tên của một vị thần nào đó gán là tác giả, như vậy (tác phẩm) sẽ được người đời coi trọng. Tác giả củaCảm Ứng Thiên mượn danh Thái Thượng Lão Quân để phô diễn tư tưởng của mình, như vậy rất phù hợp với đặc điểm của Đạo giáo.»

Đạo Kinh Tổng Luận 道經總論 [9] đăng mục lục của bộ Đạo Tạng Tinh Hoa 道藏精華 xuất bản ở Đài Loan, trong 13 tập thì Thái Thượng Cảm Ứng Thiên được in ở tập 1 và ghi chú là «Thái Thượng chân truyền» 太上真傳.

Lý Lạc Cầu 李樂俅 [10] chú thích về Thái Thượng Cảm Ứng Thiên như sau: «Cảm Ứng Thiên được xem là xưa nhất trong loại sách khuyến thiện, không biết tác giả là ai (bất tri hà nhân sở tác 不知何人所作). Có thể thấy (sự giống nhau) ở thiên Vi Chỉ trong Bão Phác Tử Nội Thiên. Người tu chân cần phải đọc cho làu thông, bản thân phải cố gắng làm theo, coi như là cơ sở để nhập Đạo vậy. Phân chia mười chương để (người đời) rõ yếu chỉ, sửa lòng. Sách không biết bắt đầu di tặng cho đời tự bao giờ.»

Về lai lịch của Lý Xương Linh, Trung Hoa Đạo Học Thông Điển [11] chép rằng: «Lý Xương Linh năm sinh và năm mất không rõ. Ông sống vào đời Nam Tống (1127-1279), quê ở Giáp Giang 夾江 thuộc Hán Gia 漢嘉 (nay là Giáp Giang thuộc Tứ Xuyên) vì thế ông còn biệt hiệu là Giáp Giang Ẩn Giả (người ẩn dật ở Giáp Giang). Ông trùng tên với một Lý Xương Linh khác làm quan Ngự Sử Trung Thừa 御史中丞 đời Bắc Tống (960-1127). Lý Xương Linh chú giải Thái Thượng Cảm Ứng Thiên thành 30 quyển, nhằm tuyên dương lý lẽ thiên nhân cảm ứng, khuyến thiện và trừng ác. Kinh hấp thụ tư tưởng và luân lý Nho gia. Các điều thiện trong kinh liệt kê thành 26 loại, các điều ác 170 loại. Kinh rất có ảnh hưởng đến hậu thế và được đưa vào Đạo Tạng.»

Holmes Welch, giáo sư Đại Học Harvard, cũng dè dặt nói về thời gian hình thành Cảm Ứng Thiên và ông chẳng đề cập tác giả kinh này là ai. Ông viết: «Có lẽ được trứ tác vào thế kỷ XI cn, chúng (tức là Cảm Ứng Thiên và Âm Chất Văn) được phổ biến rộng rãi do các tu viện và các tổ chức từ thiện.» [12]

Joseph Needham không cho biết tác giả Cảm Ứng Thiên là ai, chỉ bảo kinh này xuất hiện đầu thế kỷ XI cn: «Cơ sở để nghiên cứu Đạo Tổ và giáo lý, tức là bộ Đạo Tạng, được đặt ra năm +745. Nhiều đạo thư đã được trứ tác chẳng hạn như Âm Phù Kinh của Lý Thuyên. Nhiều nhân vật kiệt xuất như Lý Bạch cũng tu tập Đạo giáo. Dưới sức ép mạnh mẽ để tranh với Nho và Phật, các đạo sĩ giờ đây xuất hiện trong vai truyền giảng đạo đức phổ thông, thế (mới có) Thái Thượng Cảm Ứng Thiên vào đầu thế kỷ +11, và sau đó là Công Quá Cách, tương truyền là của một nhà tu đan nổi tiếng đồng thời cũng là một vị tiên tên Lữ Động Tân.» [13]

Farzeen Baldrian cho rằng thiện thư (sách khuyến thiện) bắt đầu xuất hiện vào thế kỷ XII cn và nổi tiếng nhất là Cảm Ứng Thiên: «Trong Bão Phác Tử, Cát Hồng khẳng định rằng không hành thiện thì mong thành tiên cũng hoài công. Quyển sách của ông đã cung cấp một bản liệt kê những việc thiện và ác và những điều này còn lưu giữ những qui luật đạo đức phổ quát. Những thiện thư (mà một số dựa theo bản liệt kê của Cát Hồng) bắt đầu xuất hiện vào thế kỷ XII cn. Nổi tiếng nhất là Cảm Ứng Thiên và Công Quá Cách.» [14]

Qua những tư liệu trên, ta thấy không dễ khẳng định tác giả của Cảm Ứng Thiên. Còn thời gian hình thành tác phẩm thì có người cho rằng đầu đời Bắc Tống, hoặc cuối đời Bắc Tống, hoặc xưa hơn nữa là đời Tấn. Cho nên, nếu căn cứ vào thư tịch thì vấn đề tác giả và thời gian hình thành Cảm Ứng Thiên phải còn tồn nghi vậy. Tuy nhiên, tại Việt Nam tín đồ Cao Đài giáo vẫn yên tâm rằng Thái Thượng Lão Quân là tác giả của Cảm Ứng Thiên (Kinh Cảm Ứng).

II. ẢNH HƯỞNG CẢM ỨNG THIÊN ĐỐI VỚI HẬU THẾ

Cảm Ứng Thiên từ khi xuất hiện đã được vua chúa, quan lại và sĩ phu hoan nghênh vì tác dụng giáo hóa của kinh đối với phong hóa xã hội. Không ít vua chúa đã góp sức truyền bá bộ kinh này. Vào đầu đời Nam Tống, triều đình xuất tiền cho khắc in. Vua Lý Tông 理宗 (cai trị 1225-1260) nhà Tống chấp bút viết tám chữ lớn (đại tự): «Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành» 諸惡莫作眾善奉行 vào bìa một bản khắc in. Vua Thành Tổ 成祖 (cai trị 1403-1424) nhà Minh có hoàng hậu Từ thị 徐氏 đã phóng tác Cảm Ứng Thiên thành Nhân Hiếu Hoàng Hậu Khuyến Thiện Thư 仁孝皇后勸善書. Vua Thuận Trị 順治 đời Thanh đã viết bài tựa cho Cảm Ứng Thiên, gọi là Khuyến Thiện Yếu Ngôn Tự 勸善要言序. Về phía dân chúng, vào đời Tống, ngoài bản Cảm Ứng Thiên in trong Đạo Tạng, dân chúng cũng tự khắc in riêng. Đời Nguyên, có gia đình Ôn Hoài Nhân 溫怀仁 còn tàng giữ một bản in đời Tống, vì sợ mất mát nên quyên tiền trong hai năm và in tặng không cho mọi người. Đời Minh và Thanh rất nhiều người đi quyên tiền khắc in Cảm Ứng Thiên, như đời Minh có ông Uông Tĩnh Hư 汪靜虛 ở Tiền Đường 錢塘đã quyên tiền khắc in một vạn bản để tặng khắp nơi. Sự quyên tiền ấn tống kinh vào đời Thanh lại càng mạnh mẽ. Năm Càn Long 20 một quan tổng binh tên là Hoàng Chính Nguyên 黃正元 đã sáng tác Cảm Ứng Thiên Đồ Thuyết 感應篇圖說. Năm Quang Tự 15, Nhân Tế Thiện Đường 仁濟善堂 ở Thượng Hải cho in thạch ấn lại quyển này và cải danh là Thái Thượng Bảo Phiệt Đồ Thuyết 太上寶筏圖說. Không những là in chữ, người ta còn vẽ những hình tượng và đồ giải cho người không biết chữ xem cũng hiểu, thành thử đó cũng là một lý do khiến kinh được lưu truyền hết sức rộng rãi, ảnh hưởng rất lớn, thậm chí còn truyền sang Nhật Bản nữa. Đệ tử thiền môn cũng rất hâm mộ Cảm Ứng Thiên, như đời Càn Long có tăng Tế Thường 際常biết bao nhiêu lần quyên khắc ấn tống kinh này. Đến năm Dân Quốc, Cảm Ứng Thiên vẫn còn hấp lực. Nhà văn Mao Thuẫn 茅盾 trong tác phẩm Tý Dạ 子夜 có tả một ông lão suốt ngày tụng niệm Cảm Ứng Thiên, lúc chết tay cũng không rời cuốn kinh. Không những in khắc, chép tay, tặng không khuyên đọc, vô số người gắng công chú giải Cảm Ứng Thiên. Đời Thanh có hai đại Nho là Huệ Đống 惠棟 và Du Việt 俞樾 tập hợp những lời chú giải. Huệ Đống viết Thái Thượng Cảm Ứng Thiên Chú 太上感應篇注, Du Việt viết Thái Thượng Cảm Ứng Thiên Toản Nghĩa 太上感應篇纘義. [15]

Giáo sư Holmes Welch [16] nhận xét về sự phổ biến của Cảm Ứng Thiên như sau: «Tôn giáo của đại chúng có những luân lý và khía cạnh tâm linh của nó. Điều này được minh họa ở hai trứ tác ngắn gọn là Thái Thượng Cảm Ứng Thiên (The Tractate on Actions and Retributions) và Âm Chất Văn (Text on Determining to Do Good Deeds in Secret). [17] Có lẽ những trứ tác này được hình thành vào thế kỷ XI cn và chúng được phổ biến rộng rãi do các tu viện và các tổ chức từ thiện, tương tự trường hợp của kinh thánh Thiên Chúa Giáo do hội Gideon ấn tống tại Mỹ vậy. Nhà Hán Học F.H.Balfour thế kỷ XIX đã miêu tả Cảm Ứng Thiên là một quyển kinh phổ thông nhất tại Trung Quốc.»

Tây Phương cũng biết đến Cảm Ứng Thiên nhờ sự nghiên cứu và phiên dịch của các cố đạo Thiên Chúa giáo khi họ đến Trung Quốc truyền đạo vào thế kỷ qua. James Legge đã dịch Cảm Ứng Thiên và in trong Texts of Taoism (Đạo Giáo Kinh Văn) thuộc bộ Sacred Books of the East (Kinh Điển Đông Phương), quyển XL, gồm: Đạo Đức Kinh, Nam Hoa Kinh, Cảm Ứng Thiên, Thanh Tĩnh Kinh, Âm Phù Kinh và Nhật Dụng Kinh[18]

Tại Việt Nam, Kinh Cảm Ứng (Cảm Ứng Thiên) cũng hết sức phổ biến nhưng không rõ các bản dịch đã xuất hiện tự bao giờ? Những bản Việt dịch này thường chỉ có âm Hán Việt và dịch nghĩa, không chú giải, không ghi tên dịch giả, không ghi năm xuất bản. Kinh vì ngắn nên thường được in kèm với các kinh khác như Kinh Di Đà, Kinh Cứu Khổ, v.v. Ngôn từ tiếng Việt trong các bản kinh này rất xưa, theo giọng miền Nam. Thí dụ: «Đều (điều) họa phước không tìm đến», «biên chép tội ác của người đặng (để) bớt kỷ bớt toán», «nếu ai muốn sống lâu, trướctua (nên) lánh mấy đều (điều) dữ», «Thửa (vốn) gọi người lành», «Khá mà (có thể) trông cậy đến bực (bậc) thần tiên», «đờn (đàn) bà», «phung (phun) nước miếng sao  (giá), v.v. Nghĩa là Việt ngữ la tinh hóa của giai đoạn phát triển đầu thế kỷ XX với những lỗi chính tả như hỏi/ngã, phụ âm cuối c/tn/ng (lén lúc (lút), lấy ngan (ngang)), v.v. Còn những bản Cảm Ứng Thiên bằng chữ Hán có lẽ đã được các sư tăng Phật giáo cũng như các đạo sĩ đạo cô của các chi phái Lão giáo tại Việt Nam trì tụng từ lâu. Ngoài ra, ảnh hưởng của Cảm Ứng Thiên đối với tín đồ Cao Đài giáo cũng rất mạnh mẽ, đặc biệt là tín đồ phái Cao Đài Chiếu Minh.

III. NỘI DUNG CỦA CẢM ỨNG THIÊN

Cảm Ứng Thiên có khoảng trên 1200 chữ (tự 字), viết theo thể loại luận thuyết văn 論說文 cũng gọi là thuyết lý văn 說理文, luận thuyết chủ đề cảm ứng. Cảm tức là «tâm tình phát sinh», ứng tức là «đáp ứng, báo ứng». Trung Hoa Đạo Học Thông Điển (trang 785) giải thích nhan đề Cảm Ứng Thiên như sau: «Thái Thượng tức là tiếng xưng hô một bậc vô cùng cao tột.Lễ Ký – Điển Lễ 禮記典禮 nói: «Thái Thượng quí đức» 太上貴德 (Thái Thượng Lão Quân quí trọng đạo đức). Xuân Thu Truyện 春秋傳 nói: «Thái Thượng dĩ đức phủ dân» 太上以德撫民(Thái Thượng Lão Quân lấy đạo đức để an ủi vỗ về dân chúng). Thế nên kinh điển ngàn xưa đã xưng tán Đức Thái Thượng là bậc Thượng Đức hay Thượng Thánh có trước Ngũ Đế. [19]Các phái Đạo gia về sau đều trọng Đức Thái Thượng là Thầy, gọi là Thái Thượng Cao Thánh Ngọc Thần Đại Đạo Quân 太上高聖玉晨大道君 hay là Lão Quân 老君. «Cảm Ứng» tức là chỉ con người do trong lòng nảy sinh tình cảm hoặc phát tác một hành vi nào đó thì sẽ nhận lĩnh một hưởng ứng từ ngoại giới.»

Nói cụ thể, Cảm Ứng Thiên luận thuyết về luật Nhân Quả Báo Ứng mà tông chỉ của kinh nằm ở 16 chữ: Họa phúc vô môn duy nhân tự triệu, thiện ác chi báo như ảnh tùy hình 禍福無門惟人自召善惡之報如影隨形. Quan niệm thiện ác báo ứng đã có từ thời Tiên Tần. Dịch Kinh, quẻ Khôn 坤, phần Văn Ngôn 文言 nói: «Tích thiện chi gia tất hữu dư khánh, tích bất thiện chi gia tất hữu dư ương» 積善之家必有餘慶積不善之家必有餘殃 (Nhà nào tích thiện sẽ có nhiều may mắn, nhà nào tích ác sẽ có nhiều tai ương). [20]

Trung Quốc Đạo Giáo [21] nói về nội dung Cảm Ứng Thiên như sau: «Kinh bảo muốn sống lâu nhiều phúc thì phải hành thiện và tích đức. Kinh liệt kê trên 20 điều thiện và trên 100 điều gọi là chuẩn mực cho việc làm lành lánh dữ.(…) Cảm Ứng Thiên xiển dương tư tưởng Thiên nhân tương cảm và nhân quả báo ứng, lại có những tín điều của Phật giáo và Đạo giáo cũng như những qui phạm luân lý của Nho gia, quả là một sự dung hợp ba nhà Nho, Thích, Đạo vậy.»

Xét về phương diện luân lý, Nho gia thường bảo: «Lập thiện đa đoan mạc tiên trung hiếu» 立善多端莫先忠孝 (Làm điều thiện có nhiều đường nhưng chẳng gì bằng trung và hiếu). Trung và hiếu cũng là căn bản đạo đức truyền thống của Đạo gia. Quan điểm tu thân, trung quân, hiếu đễ ấy thể hiện rất rõ trong Cảm Ứng Thiên, chẳng hạn như: «Bất lý tà kính, bất khi ám thất, tích đức lũy công,tâm từ ư vật, trung hiếu hữu đễ, chính kỷ hóa nhân.» 不履邪徑, 不欺暗室, 積德累功, 心慈於物, 忠孝友悌, 正己化人 (Không đi đường sái quấy, không khinh nhà tối, tích lũy công đức, lòng hiền thương mọi vật, trung quân, thương kính cha mẹ, thương em, kính anh, tự sửa bản thân rồi mới dạy người) (điều 3- Tích thiện).

Những việc kê ra ở điều 5 và 6 bị xem là ác vì phần lớn chúng ngược lại với luân lý Nho gia, thí dụ như: «Ám vũ quân thân 暗侮君親 (Thầm khinh vua, khi dễ cha mẹ); Mạn kỳ tiên sinh 慢其先生 (Coi thường thầy dạy); Nhuế nộ sư phó 恚怒師傅 (Chọc giận thầy dạy); Để xúc phụ huynh 抵觸父兄 (Khi rẻ và xúc phạm cha và anh); Dụng thê thiếp ngữ vi phụ mẫu huấn 用妻妾語違父母訓 (Nghe lời vợ mà vi phạm lời dạy của cha mẹ); Cốt nhục phẫn tranh 骨肉忿爭 (Chia lìa tình ruột thịt); Nam bất trung lương 男不忠良 (Trai không lành); Nữ bất nhu thuận 女不柔順 (Gái không nhu thuận); Bất tri kỳ thất 不知其室 (Không quan tâm việc nhà); Bất kính kỳ phu 不敬其夫 (Chẳng trọng chồng); v.v.»

Cảm Ứng Thiên bao hàm ngũ giới cấm [22] của Phật giáo nhưng diễn đạt cụ thể bằng cách nói khác, thí dụ như:

 «Xạ phi trục tẩu, phát trập kinh thê, điền huyệt phúc sào, thương thai phá noãn, tổn tử đọa thai» 射飛逐走, 發蟄驚棲, 顛穴覆巢, 傷胎破卵, 損子害胎 (Săn bắn chim và thú, phá hang ổ loài bu đậu, lấp lỗ hang, lật úp tổ chim, phá thai hại trứng, hại con, phá thai) ứng với giới cấm 1 (Bất sát sinh 不殺生).

 «Sát nhân thủ tài 殺人取財 (giết người cướp của); phá nhân chi gia thủ kỳ tài bảo 破人之家取其財寶 (phá nhà người đế lấy của nả); cưỡng thủ cưỡng cầu háo xâm háo đoạt 強取強求好侵好奪 (giật ngang lấy ngang, thích xâm phạm và chiếm đoạt); lỗ lược trí phú 掳掠致富 (cướp giật để trở nên giàu có)» ứng với giới cấm 2 (Bất du đạo 不偷盜: Cấm trộm cướp).

 «Dâm dục quá độ 淫欲過度 (dâm dục không kìm chế); kiến tha sắc mỹ khởi tâm tư chi 見他色美起心私之 (Thấy vợ hoặc con gái người ta xinh đẹp thì sinh lòng tư thông chiếm đoạt)» ứng với giới cấm 3 (Bất tà dâm 不邪淫: Cấm tà dâm).

 «Hư vu trá ngụy 虛誣詐偽 (gian dối lọc lừa); biếm chính bài hiền 貶正排賢 (chê bai người hiền lương); dĩ trực vi khúc dĩ khúc vi trực 以直為曲以曲為直 (lấy thẳng làm cong lấy cong làm thẳng= tráo trở); khẩu thị tâm phi 口是心非 (lời nói ra vẻ ngay thẳng nhưng lòng toan tính tà vạy); sàm hủy bình nhân 讒毀平人 (dèm pha hãm hại người dân thường); hủy nhân xưng trực毀人稱直 (hãm hại người mà tự xưng mình ngay thẳng)» ứng với giới cấm 4 (Bất vọng ngữ 不妄語: Cấm nói lời quấy).

 «Thị tửu bột loạn 嗜酒悖亂 (Thích nhậu nhẹt quậy phá)» ứng với giới cấm 5 (Bất ẩm thực tửu nhục 不飲食酒肉: Cấm ăn thịt và cấm uống rượu).

Quan niệm Đạo giáo cũng rất sâu đậm trong Cảm Ứng Thiên. Căn bản của thành tiên chứng đạo là ở chỗ hành thiện tích đức. Kinh viết: «Dục cầu thiên tiên giả đương lập nhất thiên tam bách thiện, dục cầu địa tiên giả đương lập tam bách thiện.» 欲求天仙者當立一千三百善, 欲求地仙者當立三百善 (Muốn thành thiên tiên thì phải làm 1300 điều thiện, muốn thành địa tiên thì phải làm 300 điều thiện) (điều 4: Thiện báo). Đó cũng là quan niệm của Cát Hồng 葛洪 trong Bão Phác Tử 抱樸子 nhưng tiêu chuẩn của Cát Hồng là 1200 điều thiện và 300 điều thiện. Cũng trong điều 4, Kinh bảo người làm điều thiện thì được thế nhân kính trọng, trời phù hộ, phúc lộc đến, tà quái không dám lại gần, thần linh hộ vệ và có thể mong trở thành thần tiên (thần tiên khả ký 神仙可冀). Nhưng việc thiện ác không phân biệt lớn nhỏ. Bão Phác Tử Nội Thiên, chương Đối Tục 對俗, viết: «Nhân dục địa tiên, đương lập tam bách thiện; dục thiên tiên, lập thiên nhị bách thiện. Nhược hữu thiên nhất bách cửu thập cửu thiện, nhi hốt phục trúng hành nhất ác, tắc tận thất tiền thiện, nãi đương phục cánh khởi thiện số nhĩ. Cố thiện bất tại đại, ác bất tại tiểu dã» 人 欲 地 仙 , 當 立 三 百 善 ; 欲 天 仙 , 立 千 二 百 善 . 若 有 千 一 百 九 十 九 善 , 而 忽 復 中 行 一 惡 , 則 盡 失 前 善 , 乃 當 復 更 起 善 數 耳 . 故 善 不 在 大 , 惡 不 在 小 也(Người muốn thành địa tiên phải lập 300 việc thiện, muốn thành thiên tiên phải lập 1200 việc thiện. Nếu đã làm được 1199 việc thiện mà bỗng nhiên tạo một việc ác thì sẽ mất sạch số việc thiện đã làm, và như vậy phải tính lại số việc thiện từ đầu. Cho nên việc thiện không kể lớn, việc ác không kể nhỏ vậy.[23]

Holmes Welch cũng nhận ra sự dung hợp của Tam giáo trong Cảm Ứng Thiên, ông viết: «Cảm Ứng Thiên chỉ ra ngay từ đầu rằng tội lỗi con người luôn được trình báo cho Trời biết do Ông Táo (the God of the Hearth) và Tam Thi Thần.(…) Theo Cảm Ứng Thiên, đời người bị giảm thọ 12 năm (1 kỷ) do mỗi tội lớn và 100 ngày (1 toán) do mỗi tội nhỏ. Ai muốn sống lâu thì phải làm lành lánh dữ. Còn muốn thành thiên tiên (celestial immortals) thì phải làm 1300 điều thiện, muốn thành địa tiên (terrestrial immortals) thì làm 300 điều thiện. Tất cả những điều này như ta thấy, thể hiện truyền thống cổ xưa của Đạo gia. Nhưng khi ta đọc kỹ những điều thiện và ác được liệt kê trong Cảm Ứng Thiên, ta thấy chúng không thuần túy là quan điểm Đạo gia, mà hơn thế, chúng là một sự dung hợp tam giáo Nho, Thích, Đạo. Hầu hết các điều dạy này có thể được đem vào các bài giảng đạo ở các nhà thờ Thiên Chúa giáo mà chẳng ai chú ý (nhận ra là tín điều của Tam giáo). Người trì tụng được dạy không gian dối, không tàn ác, không kiêu căng, không đạo đức giả, không hối lộ, không cân gian đo thiếu, không thèm muốn vợ người, không phung phí vật phẩm, không khinh phụ huynh, không dùng lửa nước phá hoại nơi dân cư, v.v. Những tín điều Phật giáo như bất sát sinh, không lật úp tổ chim, không hại thai phá trứng ắt hẳn sẽ làm người Tây phương ngạc nhiên. Kết luận của Cảm Ứng Thiên lại là quan điểm của Nho giáo: Nếu có ai chết vì tai ương bệnh tật hay yểu mệnh mà tội nợ chưa trả hết thì số nợ còn lại phải trả sẽ chuyển sang con cháu chứ không đợi đến kiếp sau. Một số điều trong 212 tội ác có tính cách mê tín hơn là luân lý, thí dụ: Không day về hướng Bắc mà tiểu tiện, không phun nước bọt về phía sao băng. Trong sự liệt kê các điều thiện ác thì điều ác vượt trội điều thiện khoảng 10 lần.» [24]

Luật Nhân Quả mà Cảm Ứng Thiên xiển dương vốn là điểm trọng yếu trong luân lý Phật giáo. Đó là lẽ công bằng trong trời đất. Con người phải thu hoạch những gì mình đã tạo tác gieo trồng bao quát cả ba mặt thân (hành vi), khẩu (ngôn ngữ) và ý (tâm tư). Người Âu châu cũng tin như vậy qua tục ngữ «Man reaps what he sows» (gieo gì gặt đó). Người Việt Nam bao đời nay cũng hằng tin tưởng «Ở hiền gặp lành, làm ác gặp ác» là thế. Người Trung Quốc thường nói «Chủng qua đắc qua, chủng đậu đắc đậu» 種 瓜 得 瓜 種 豆 得 豆 (trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu) cũng không ngoài lẽ nhân quả báo ứng.

Bên cạnh luật nhân quả báo ứng là luật Thiên nhân tương cảm 天 人 相 感 (hay Thiên nhân tương dữ  天 人 相 與, Thiên nhân hợp nhất  天 人 合 一) mà Cảm Ứng Thiên muốn xiển dương. Tam giáo quan niệm Trời tiềm ẩn trong lòng người. Trang tử nói: «Thiên tại nội, nhân tại ngoại» 天 在 內 人 在 外 (Trời ở trong, người ở ngoài.[25] Lại nói: «Thiên địa dữ ngã tịnh sinh nhi vạn vật dữ ngã vi nhất» 天 地 與 我 并 生 而 萬 物 與 我 為 一 (Trời đất sinh đồng thời với ta, vạn vật với ta là một.[26] Đại Đỗng Chân Kinh  大 洞 真 經 viết: «Nhân Thiên tự bản vô sai biệt» 人 天 自 本 無 差 別 (Tự bản chất Trời và người không khác nhau). Hoàng Đế Âm Phù Kinh 黃 帝 陰 符 經 bảo: «Thiên tính nhân dã» 天 性 人 也 (Thiên tính là người). Mạnh Tử nói: «Vạn vật giai bị ư ngã hĩ.» 萬 物 皆 備 於 我 矣 (Cái lý của vạn vật đều có đủ trong ta.[27] Mạnh Tử quan niệm Trời ở ngay trong lòng người nên thấu triệt tường tận lòng mình thì sẽ biết tính, biết tính thì sẽ biết Trời: «Tận kỳ tâm giả tri kỳ tính dã, tri kỳ tính tắc tri Thiên hĩ.» 盡 其 心 者 知 其 性 也 , 知 其 性 則 知 天 矣 . Vì Trời ngự trong lòng ta, nên nói đến Trời thì cứ nghiêm chỉnh lòng lại thì Trời tự hiện. Diễn ý này, Kinh Thư Đại Toàn viết: «Chí ư ngôn Thiên tắc nghiêm kỳ tâm chi sở tự xuất» 至 於 言 天 則 嚴 其 心 之 所 自 出.

Như vậy theo Tam giáo, bản thể con người là Trời, cũng gọi là Thiên, Thượng Đế, chân tính, tự tánh, linh tánh, Đạo, chân tâm, chân ngã, bản lai diện mục, cốc thần, huyền tẫn, tính, thần, v.v. Cái bản thể ấy thường hằng bất biến và bên cạnh cái bất biến ấy là vọng tâm vọng ngã. Vọng tâm đầy rẫy thất tình lục dục nên che mờ chân tâm linh tánh. Tính Mệnh Khuê Chỉviết: «Phụ mẫu sinh tiền nhất điểm linh, bất linh chỉ vị kết thành hình.» 父 母 生 前 一 點 靈 不 靈 只 為 結 成 形 (Trước khi cha mẹ sinh ra ta, ta là một điểm linh quang của Thượng Đế, chỉ vì ta mang nhục thể mà điểm linh bị che mờ nên không linh nữa). Điểm linh ấy gọi là Thiên tâm, được Lữ Tổ 呂祖 giải thích trong Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ 太 乙 金 華 宗 旨 rằng: «Thiên tâm giả, tam tài đồng bẩm chi tâm; đan thư sở vị huyền khiếu thị dã. Nhân nhân câu hữu. Hiền triết khải chi, ngu mê bế chi. Khải tắc trường sinh, bế tắc đoản chiết. Ủy chi mệnh số giả, phàm phu chi kiến giả.» 天 心 者 三 才 同 稟 之 心 , 丹 書 所 謂 玄 竅 是 也 . 人 人 俱 有 . 賢 哲 啟 之 愚 迷 閉 之 . 啟 則 長 生 , 閉 則 短 折 . 委 之 命 數 者 凡 夫 之 見 也 (Thiên tâm là cái tâm cùng phú cho tam tài [thiên-địa-nhân] mà sách luyện đan gọi là huyền khiếu. Ai ai cũng có Thiên tâm. Bậc hiền triết thì khai mở nó ra, kẻ ngu mê thì đóng nó lại. Khai mở thì trường sinh, đóng lại thì chết. Đổ thừa cho số mệnh ấy là cái hiểu biết của kẻ phàm phu vậy.) [28]

Những trích dẫn trên đây xác minh mỗi người đều có Trời và thần minh ngự trị trong lòng, vì thế Trời và người tương cảm với nhau, liên lạc với nhau, có thể hợp nhất, cho nên Cảm Ứng Thiên cho rằng hễ có Cảm thì ắt có Ứng.

Cảm Ứng Thiên còn thuyết minh về thiện ác. Mỗi con người có hai phần Chân và Vọng. Phần chân thì bất biến, đó là chân tính, là Trời tiềm ẩn trong ta với biết bao tốt đẹp thiện lương. Phần vọng thì biến đổi, là vọng tâm do thất tình lục dục quấy nhiễu với bản chất xấu xa. Cảm Ứng Thiên dạy ta trở về với thiên tính thiện lương ấy và lánh xa tội lỗi. Biết Trời ngự trị trong lòng, biết thần minh luôn giám sát, tự nhiên ta sẽ thay đổi tính tình, cố ăn ở cho đàng hoàng hơn. Nghĩa là nhờ kính sợ Trời mới có thể luyện kỷ tu thân, cho nên Luận Ngữ nói: «Tu kỷ dĩ kính» 修 己 以 敬 (Lấy lòng kính sợ Trời mà sửa mình). Trong sự sửa mình có hai khía cạnh: ăn năn sám hối tội cũ (mà Cảm Ứng Thiên gọi là cách đổi họa thành phúc) và ngăn chận tội lỗi có thể phạm trong tương lai. Vì vậy kinh không luận suông về thiện ác mà chỉ dạy cách làm lành lánh dữ. Kinh nói: «Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành» 諸 惡 莫 作 眾 善 奉 行(Không làm các điều ác, phải làm mọi điều thiện). Nhưng làm thế nào biết nhìn ra điều ác để mà tránh? Khổng Tử dạy: «Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân» 己 所 不 欲 勿 施 於 人 (Điều gì mình chẳng muốn ai gây cho mình, thì mình chớ làm cho họ). [29] Nói cách khác ta phải đặt mình vào hoàn cảnh của người thì mới hiểu tâm tư và khát vọng của người thụ lãnh hành vi, nhờ đó sẽ biết việc nào nên làm hoặc không nên làm. Đó là căn bản của hành vi thiện ác. Tuy nhiên chúng ta cũng cần xét rõ nguyên nhân cấu thành tội ác để diệt trừ tận gốc. Tội ác có thể do cố ý hoặc không cố ý. Không cố ý là do lỡ tay (thí dụ trường hợp ngộ sát) hoặc do tâm thần điên loạn nên không ý thức và không kiểm soát được hành vi. Còn trường hợp cố ý mà phạm tội thì phải có một tiến trình cấu thành: tư tưởng phát sinh (vọng ý 妄意, vọng niệm 妄念) chỉ đạo ngôn ngữ (ác khẩu 惡口) hoặc và hành vi (thân nghiệp 身業). Ngoài ra cũng phải xét đến sự huân tập hành ác trong quá khứ nữa. Cho nên người tu phải tu dưỡng phần chân tâm linh tánh, không để vọng tâm lấn lướt quấy nhiễu nảy sinh thất tình lục dục. Thất tình lục dục không kiềm chế nên phát sinh ác khẩu và vọng động tạo ác nghiệp. Vậy muốn trở nên hiền lương phải đặc biệt trừng tâm, nghĩa là chú trọng yếu tố ý 意 trong ba yếu tố thân khẩu ý 身口意Cảm Ứng Thiên bảo ở điều 8 rằng: «Khi lòng nảy sinh thiện ý, tuy điều thiện chưa làm nhưng cát thần đã chực sẵn bên mình; khi lòng nảy sinh ác ý, tuy điều ác chưa làm nhưng hung thần đã chực sẵn bên mình.» [30] Luật Thiên nhân tương cảm như vậy thật là hết sức nghiêm nhặt và đáng sợ. Có sợ thì mới cố sửa mình.

Mặc dù Cảm Ứng Thiên khẳng định sự thưởng phạt công minh (thiện báo và ác báo) nhưng kỳ thực hiền nhân quân tử hành thiện không phải để truy cầu những thiện báo ấy. Vậy thì tại sao phải hành thiện? Vì trọn thiện trọn lành là bản tánh con người, Nho gia gọi đó là cái Đức Sáng (Minh Đức 明德). Do sự huân tập thế tục và do dục vọng, cái đức sáng ấy bị lu mờ, nên bổn phận con người là làm sáng lại cái đức sáng ấy (minh minh đức 明明德) và dừng lại nơi chí thiện (chỉ ư chí thiện 止 於 至 善). Mạnh Tử nói: «Quân tử mạc đại hồ dữ nhân vi thiện» 君 子莫 大 乎 與 人 為 善 (Điều lớn lao nhất của người quân tử là làm điều thiện cho người khác).[31] Khổng Tử bảo quân tử phải làm điều tốt đẹp cho người: «Quân tử thành nhân chi mỹ» 君 子成 人 之 美. [32] Làm điều thiện không cần ai biết ai hay, không cần báo đáp: «Thi ân bất cầu báo» 施 恩 不 求 報 (Cảm Ứng Thiên – điều 3). Người đời không biết, trong lòng ta không oán hận: «Nhân bất tri nhi bất oán» 人 不 知 而 不 怨. [33]  Hiền nhân quân tử chỉ biết trong lòng thầm vui và thanh thản, đó là một trong ba điều vui mà theo Mạnh Tử bậc đế vương trong thiên hạ chưa chắc đã có: «Ngưỡng bất quí ư Thiên, phủ bất tạc ư nhân» 仰 不 愧 於 天 俯 不 怍 於 人 (Trông lên không hổ với Trời, cúi xuống không thẹn với người).[34]

Như vậy, nội dung cơ bản của Cảm Ứng Thiên thâu tóm nền luân lý Tam giáo đồng thời xiển dương lẽ Thiên nhân tương cảm và luật nhân quả báo ứng, qua đó khuyến dạy người đời làm lành lánh dữ. Nhưng phân tích những điều mục đạo đức trong kinh (chủ yếu ở điều 5 và 6) ta còn nhận ra những điểm sau đây:

Kinh coi trọng quan hệ huyết thống, tông tộc: Chế độ gia đình là kết cấu xã hội cơ bản trong xã hội Trung Quốc cổ đại. Sự liên hệ giữa các thành viên trong gia đình là dựa vào huyết thống. Trong chế độ gia trưởng, mỗi người đều có tôn ti trật tự, không được nhiễu loạn, phải lấy hoà mục tông thân làm quan trọng. Kinh đề xướng: «Trung hiếu hữu đễ» 忠 孝 友悌 (trung với vua, có hiếu với cha mẹ, yêu kính anh, thương em) và phản đối: «Để xúc phụ huynh» 抵 觸 父 兄 (công kích, xúc phạm cha và anh);  «Vi phụ mẫu huấn» 違 父 母 訓 (làm trái lời dạy của cha mẹ);  «Bối thân hướng sơ» 背 親 向 疏 (nghịch với người thân thuộc mà chạy theo người dưng);  «Cốt nhục phẫn tranh» 骨 肉 忿 爭 (anh chị em ruột thịt tranh giành vật chất, chia rẽ nhau);  «Bất tri kỳ thất, bất kính kỳ phu» 不 知 其 室 , 不 敬 其 夫 (chồng bỏ bê gia đình, vợ coi rẻ chồng);  «Vô hạnh ư thê tử, thất lễ ư cữu cô, khinh mạn tiên linh» 無 行 於 妻 子, 失 禮 於 舅 姑 , 輕 慢 先 靈 (chồng không tử tế với vợ con, vợ hỗn hào với cha mẹ chồng, khinh khi ông bà tổ tiên đã khuất), v.v.

Tán đồng chế độ quân chủ: Quân chủ chế là sự phóng đại của gia trưởng chế. Hiếu là đạo con đối với cha mẹ, trung là đạo tôi đối với vua. Trung quân là một tầng cao của hiếu phụ. Cảm Ứng Thiên cho rằng trung hiếu đứng trên mọi điều thiện, là cơ sở của thành tiên liễu đạo, nên kinh phản đối «Vi nghịch thượng mệnh» 違 逆 上 命 (trái lệnh trên), «Ám vũ quân thân» 暗 侮 君 親 (thầm khinh vua và cha mẹ), «Nhiễu loạn quốc chính» 擾 亂 國 政 (làm loạn chính trị trong nước), «Khi võng kỳ thượng» 欺 罔 其 上 (Khinh thường, khuất lấp đối với bề trên), v.v. Không riêng gì Cảm Ứng Thiên, ngay từ đời Đông Hán, Thái Bình Kinh 太 平 經 và đời Ngụy Tấn, Bão Phác Tử đã khẳng định trung hiếu là căn bản đức hạnh của người tu tiên và hầu hết kinh sách của các phái Đạo giáo từ đời Tống về sau rất coi trọng trung hiếu, thậm chí có giáo phái như Tịnh Minh phái lấy trung hiếu làm tông chỉ.[35]

* Cảm Ứng Thiên đề ra phép xử thế: Phần lớn những cách ứng xử mà Cảm Ứng Thiên đề ra thì phù hợp với những cách ngôn, gia huấn trong các quyển như Tòa Hữu Minh 座右 銘, Danh Hiền Tập 名 賢 集, Tăng Quảng Hiền Văn 增 廣 賢 文, v.v. Tòa Hữu Minh 座 右 銘 của Thôi Viện 崔瑗 nói: «Vô đạo nhân chi đoản, vô thuyết kỷ chi trường. Thi nhân thận vật niệm, thụ thi thận vật vong» 無 道 人 之 短 無 說 己 之 長 施 人 慎 勿 念 受 施 勿 忘 (Đừng nói ra chỗ kém của người, chớ bày tỏ cái hay của mình. Cho ai cái gì phải thận trọng và đừng ghi nhớ, thụ nhận ai cái gì thì phải thận trọng chớ quên). Cảm Ứng Thiên cũng dạy như thế: «Bất chương nhân đoản, bất huyễn kỷ trường. Thi ân bất cầu báo, dữ nhân bất truy hối» 不 彰 人 短, 不 衒 己 長 . 施 恩 不 求 報 . 與 人 不 追 悔 (Không phô bày cái dở của người, không khoe khoang cái hay của mình. Ra ơn cho ai thì không mong sự đáp đền, cho ai cái gì thì chớ nghĩ lại mà hối tiếc). Hoặc phê phán: «Tỏa nhân sở trường, hộ kỷ sở đoản. Can cầu bất toại, tiện sinh chú hận. Thi dữ hậu hối. Giả tá bất hoàn. Phận ngoại doanh cầu» 挫 人 所 長 護 己 所 短 干 求不 遂 便 生 咒 恨 . 施 與 後 悔 , 假 借 不 還 , 分 外 營 求 (Chèn ép cho cùn nhụt chỗ hay của người, bảo hộ chỗ dở của mình. Mong cầu [chức tước bổng lộc] mà không được nên sinh lòng chưởi bới oán hận. Cho ai cái gì về sau lại tiếc. Vay mượn không trả. Mong muốn những điều vượt quá phận mình).

Kinh đề cao giới luật và phương thuật của Đạo giáo: Trừ những chỗ nói về Tư Quá Thần, Tam Thi Thần, Bắc Đẩu Thần Quân, Tam Thai, v.v. là chư thần của Đạo giáo, và quan niệm từ bi giới sát ái sinh của Phật giáo (từ tâm ư vật 慈 心 於 物: lòng từ bi đối với vạn vật), Cảm Ứng Thiên còn ủng hộ phương thuật và lên án việc cản trở phương thuật (Ủng tắc phương thuật 壅 塞 方 術). Phương thuật là gì? Từ đời Tần và đời Hán đã có những người thi hành phương thuật và được gọi là phương sĩ 方士 (magician), thí dụ như Lô Sinh 盧生 và Từ Phúc 徐福 đời Tần Thủy Hoàng 秦 始 皇 hay Lý Thiếu Quân 李少君 đời Hán Vũ Đế 漢武帝.

Phương sĩ xuất hiện từ Vu giáo 巫教 của thời Xuân Thu (722-481) và Chiến Quốc (403-221). Chữ vu 巫 gồm chữ công 工 và hai chữ nhân 人, tượng trưng hai người đang nhảy múa cầu đảo. Người ta gọi chung bọn đồng cốt phù thủy là vu hịch 巫覡 (vu gọi nữ, hịch gọi nam). Vương Hữu Tam [36] giải thích hai chữ vu hịch như sau: «Vu hịch là những người cổ đại cầu đảo thần minh giáng phúc, là người môi giới giữa con người và thần minh, cũng có thể thay mặt quốc gia mà cầu thần minh phù hộ. Trong thời ban sơ của tôn giáo, vu hịch chiếm địa vị quan trọng. Quan chế thời cổ có chức chúc 祝, đó là chức quan phụ trách việc tế trời và cầu đảo thần minh, và vu chính là biệt danh của chúc. Người nam gọi là hịch, người nữ gọi là vu. Thuyết Văn Giải Tự nói: «Vu, chúc dã» 巫祝也 (Vu chính là chúc) và «Hịch năng trai túc sự thần minh dã, tại nam viết hịch, tại nữ viết vu» 覡 能 齋 肅 事 神 明 也 在 男 曰 覡 在 女 曰 巫 (Hịch trai giới cúc cung phụng sự thần minh, người nam gọi là hịch, người nữ gọi là vu). (…) Dần dần vu hịch trở thành một tệ mê tín phổ biến trong dân gian, và lưu truyền tại Trung Quốc mấy ngàn năm mà không suy thoái.»

Theo Lưu Ngọc Kiến [37] đời Thương là thời kỳ đỉnh thịnh của bọn vu hịch, gần như một tôn giáo, gọi là Vu giáo 巫教. Bọn họ (gọi là vu sử 巫史) giữ chức vụ trọng yếu trong triều, vừa có nhiệm vụ về tôn giáo (thông công với thần minh) vừa có nhiệm vụ chính trị. Một số nhân vật vu hịch có tên tuổi được cổ tịch đề cập như Y Doãn 伊尹 (tức là A Hành 阿衡) (xem Sử Ký Tư Mã Thiên- Ân bản kỷ; Mặc Tử- Thượng hiền trung; Kinh Thi- Thương tụng), Y Trắc 伊陟 (con trai của Y Doãn) [38] (xem Sử Ký- Ân bản kỷ), Vu Hàm 巫咸 và con trai là Vu Hiền 巫賢 (xemSử Ký – Ân bản kỷ), Cam Bàn 甘盤 (xem Thương Thư – Chu thư; Sử Ký – Yên thế gia).

Theo Lý Viễn Quốc [39] ngoài công việc chính yếu là bốc phệ, các vu hịch dần dần bị phân hoá trên nhiều lãnh vực khác nhau như thiên văn, y học, tôn giáo, chính trị, v.v. Một số vu hịch lại có nguyện vọng truy cầu sự khang kiện và trường thọ nên rất chú trọng đến y dược và luyện dưỡng. Những vu hịch này dần dần tách biệt với Vu giáo và hình thành một hệ thống độc lập và được gọi là phương sĩ. Phương pháp luyện dưỡng của họ được gọi là phương thuật, gọi như vậy để khu biệt với vu thuật của bọn vu hịch.

Nhưng đến đời Tống thì phương thuật hay pháp thuật mới được Bạch Ngọc Thiềm 白玉蟾 định nghĩa rõ ràng hai khái niệm pháp 法 và thuật 術: «Phong phù vũ ấn, long binh hổ kỵ, tế sinh độ tử, thông chân đạt linh, thử sở vị pháp. Tốn phong hóa cáp, dụ nghĩ hô qui, phi kiếm trảm tinh, đầu giản náo long, thử sở vị thuật» 風 符 雨 印 ,龍 兵 虎 騎 , 濟 生 度 死 , 通 真 達 靈 ,此 所 謂 法 . 噀 蜂 化鴿 , 誘 蟻 呼 龜 , 飛 劍 斬 精 , 投 簡 撓 龍 此 所 謂 術 (Dán phù gọi gió bắt ấn gọi mưa, cỡi cọp dẫn binh rồng, cứu người sống độ người chết, giao tiếp với tiên và thần linh, những cái đó gọi là pháp. Phun nước vào con ong biến nó thành chim bồ câu, lấy con kiến hô biến thành con rùa, phóng kiếm chém yêu tinh, ném thẻ tre cản ngăn rồng, những thứ ấy gọi là thuật). Nói cách khác, theo Bạch Ngọc Thiềm, thuật (tức đạo thuật) chỉ những hành vi và thao tác cụ thể, còn pháp (tức đạo pháp) chỉ những phương pháp để giao tiếp với thần linh, nhưng người đời quen gọi chung là pháp thuật (hay phương thuật). Thật sự phương thuật của Đạo giáo rất phong phú, chia làm hai loại chính: một loại gồm những cách tu luyện của các đạo sĩ như thủ nhất, huỳnh đình, nội thị, thổ nạp, đạo dẫn, tịch cốc, phòng trung, hoàng bạch, kim đan, phục thực, nội đan, v.v… loại kia gồm những hoạt động tế thế độ nhân của các đạo sĩ như phù, chú, linh đồ, hàng yêu, nhiếp quỉ, v.v[40] Cảm Ứng Thiên ủng hộ phương thuật, nhưng phản đối dùng phương thuật với ý đồ xấu: «Mai cổ yểm nhân» 埋 蠱 厭 人 (Chôn bùa ếm người). Ngoài ra kinh cũng lưu giữ những giới luật của Đạo giáo: «Mạ thần xưng chánh. Chỉ thiên địa dĩ chứng bỉ hoài. Dẫn thần minh nhi giám ôi sự. Hối lạp ca vũ. Sóc đán hiệu nộ. Đối bắc thế thóa cập niệu. Đối táo ngâm vịnh cập khốc. Hựu dĩ táo hỏa thiêu hương. Uế sài tác thực. Dạ khởi lõa lộ. Bát tiết hành hình. Thóa lưu tinh chỉ hồng nghê. Triếp chỉ tam quang. Cửu thị nhật nguyệt. Xuân nguyệt liệu lạp. Đối bắc ác mạ. Vô cố sát qui đả xà.» 罵 神 稱 正 . 指 天 地 以 證 鄙 懷 . 引 神 明 而 鑑 猥 事. 晦 臘 歌 舞 , 朔 旦 號 怒 . 對 北 涕 唾 及 溺 ,對 灶 吟 詠 及 哭 .又 以 灶 火 燒 香 , 穢 柴 作 食 , 夜 起 裸 露 , 八 節 行 刑 , 唾 流 星 指 紅 霓 , 輒 指 三 光 , 久 視 日 月 , 春 月 燎 臘 , 對 北 惡 罵 , 無 故 殺 龜 打 蛇. (Chưởi rủa thần thánh, tự xưng mình ngay thẳng. Chỉ trời chỉ đất để làm chứng cho lòng dạ xấu xa của mình. Gọi thần minh chứng giám cho việc quấy. Ngày cuối tháng, cuối năm ca múa. Ngày đầu tháng đầu năm khóc la giận hờn. Day về hướng bắc khóc, hỉ mũi, khạc nhổ, tiểu tiện. Trước ông Táo ngâm vịnh, khóc lóc, hoặc đốt nhang trong bếp lò. Củi dơ nấu ăn. Đêm tối để cho thân thể loã lồ. Ngày bát tiết thi hành hình phạt. Khạc nhổ về phía sao băng. Tay chỉ cầu vồng. Thường chỉ trỏ nhật nguyệt tinh. Nhìn lâu mặt trời mặt trăng. Mùa xuân đốt rừng săn bắn. Day về hướng bắc chưởi rủa độc địa. Không có lý do mà đánh giết rắn rùa.) (Cảm Ứng Thiên, điều 6). Những cấm kỵ như «Bát tiết hành hình 八 節 行 刑 (hành hình vào các ngày thuộc 8 tiết); sóc đán hiệu nộ 朔 旦 號 怒 ngàyđầu tháng, đầu năm kêu gào giận khóc); đối bắc thế thóa cập niệu 對 北 涕 唾 及 溺 (day về hướng bắc hỉ mũi, khạc nhổ và tiểu tiện); triếp chỉ tam quang 輒 指 三 光 (chỉ trỏ nhật nguyệt tinh); cửu thị nhật nguyệt 久 視 日 月 (nhìn lâu mặt trời mặt trăng)» thì Tôn Tư Mạc 孫思邈 đời Đường cũng nói trong quyển Nhiếp Dưỡng Chẩm Trung Phương 攝養枕中方 khi đề cập những đại kỵ của người tu tiên: «Vật dĩ bát tiết nhật hành uy hình, vật dĩ hối sóc nhật nộ, vật hướng bắc đại tiểu tiện, ngưỡng thị tam quang» 勿 以 八 節 日 行 威 刑 , 勿 以 晦 朔 日 怒 , 勿 向 北 大 小 便 ,仰 視 三 光 (Không được hành hình vào những ngày thuộc 8 tiết, không giận dữ vào ngày cuối tháng và mồng một, không hướng về phía bắc mà đại tiện và tiểu tiện, không được ngước nhìn nhật nguyệt tinh.[41]

* Cảm Ứng Thiên dạy người đời phải công bằng trong đời sống kinh tế xã hội: Trước tiên là không giữ của cải phi nghĩa, không được mưu cầu lợi lộc mà hại mạng người khác, không được vi phạm pháp luật mà hối lộ (Cưỡng thủ cưỡng cầu. Háo xâm háo đoạt. Lỗ lược trí phú. Khí pháp thụ lộ» 強 取 強 求 , 好 侵 好 奪 , 掳 掠 致 富.棄 法 取 賂). Trong mua bán thì không được cân gian đo thiếu (Đoản xích hiệp độ. Khinh xứng tiểu thăng. Dĩ ngụy tạp chân. Thái thủ gian lợi 短 尺 狹 度 , 輕 秤 小 升, 以 偽 雜 真 ,採 取 姦 利 ). Vay mượn thì phải hoàn trả sòng phẳng, cấm không được «mượn tài vật của ai rồi nguyện cho khổ chủ chết đi để quịt nợ» (Phụ tha hóa tài nguyện tha thân tử 負 他 財 貨 願 他 身 死) hay «trước mượn sau giật» (Giả tá bất hoàn 假 借 不 還).

Lý Lạc Cầu chép lời của Tịnh Ý Cư Sĩ 淨 意 居 士: «Quan Cảm Ứng Thiên Linh Dị Ký, như ảnh tùy hình, nhi sở dĩ trí thử linh dị giả hữu tam: viết tụng, viết hành, viết truyền. Tam giả chi trung, lực hành tối vi trọng yếu, nhi đắc báo tắc dĩ ấn truyền vi tối thần tốc. Cái nhất nhân hành thiện, bất như nhân nhân hành thiện dã» 觀 感 應 篇 靈 異 記 , 如 影 隨 形 , 而 所 以 致 此 靈 異 者 有 三 : 曰 誦 , 曰 行 , 曰 傳 . 三 者 之 中 ,力 行 最 為 重 要 , 而 得 報 則 以 印 傳 為 最 神 速 . 蓋 一 人 行 善 不 如 人 人 行 善 也 (Xem quyển Cảm Ứng Thiên Linh Dị Ký mới thấy những sự linh dị cũng như ảnh theo hình. Muốn đạt những sự linh dị thì có ba điều: tụng niệm, thi hành và truyền bá Cảm Ứng Thiên. Trong ba điều ấy, cố gắng thi hành là quan trọng hơn cả. Để được thiện báo thần tốc thì in ấn và truyền bá kinh. Một người hành thiện chẳng bằng người người hành thiện vậy). Như vậy, thiết nghĩ, hiểu nội dung Cảm Ứng Thiên rồi thì chúng ta cần phải «chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành» 諸 惡 莫 作 眾 善 奉 行 (chớ làm mọi điều ác, hãy làm mọi điều thiện), thế mới quý.

IV. BỐ CỤC CẢM ỨNG THIÊN

Các bản Cảm Ứng Thiên mà tôi dùng tham khảo có bố cục và phân đoạn khác nhau như:

(1) Cảm Ứng Thiên Trực Giảng 感應篇直講 của Hứa Chỉ Tịnh 許止淨 [42] không có phần khai kinh, mà giảng một mạch từ đầu đến hết kinh, không phân đoạn.

(2) Thái Thượng Cảm Ứng Thiên 太上感應篇 in trong Trung Hoa Đạo Học Thông Điển [43] cũng không phân đoạn và không có phần khai kinh. Bản này do Mã Chấn Á 馬振亞 chú dịch căn cứ vào Hán Học Sư Thừa Ký 漢學師承記 mà phân thành hai quyển:

+ Quyển thượng từ câu «Thái Thượng viết họa phúc vô môn duy nhân tự triệu» đến câu «Túng bạo sát thương» [thuộc điều 5 ở bản có phân điều / đoạn].

+ Quyển hạ từ câu «Vô cố tiễn tài» [thuộc điều 5 ở bản có phân điều/đoạn] cho đến câu chót «Hồ bất miễn hành chi».

Hai quyển thượng – hạ trên không phân điều / đoạn gì cả mà ngay sự phân quyển cũng không hợp lý vì làm gián đoạn mạch văn.

(3) Bản Thái Thượng Cảm Ứng Thiên trong Tiên Học Diệu Tuyển 仙學妙選 của Lý Lạc Cầu 李樂俅 [44] không có phần khai kinh và chia làm 10 chương [khác với bản (4) và (5) sau đây] là:

Chương 1- Minh Nghĩa 明義 [«Thái Thượng viết họa phúc vô môn… như ảnh tùy hình»].

Chương 2 – Thị Cảnh 示警 [«Sở dĩ thiên địa hữu tư quá chi thần …toán tận tắc tử »].

Chương 3 – Giám Sát 鑑察 [« Hựu hữu tam thai … dục cầu trường sinh giả tiên tu tị chi»].

Chương 4 – Tích Thiện 積善 [«Thị đạo tắc tiến … dữ nhân bất tri hối»].

Chương 5- Thiện báo 善報 [«Sở vị thiện nhân … đương lập tam bách thiện»].

Chương 6 – Chư Ác 諸惡 [«Cẩu hoặc … Vô cố sát qui đả xà»].

Chương 7 – Ác Báo 惡報 [«Như thị đẳng tội …tử diệc cập chi»].

Chương 8 – Chỉ Vi 指微 [«Phù tâm khởi ư thiện … nhi hung thần dĩ tùy chi»].

Chương 9 – Hối Quá 悔過 [«Kỳ hữu tằng hành ác sự … Sở vị chuyển họa vi phúc dã »].

Chương 10 – Lực Hành 力行 [«Cố cát nhân ngứ thiện … Hồ bất miễn hành chi ?»].

(4) Bản Cảm Ứng Thiên trong quyển Kinh Cúng Tứ Thời in tại Saigon 1963 của phái Cao Đài Chiếu Minh (tức Cao Đài Đại Đạo Chiếu Minh Vô Vi Tam Thanh) gồm có phần khai kinh và phần kinh tụng chia ra làm 10 điều. Toàn kinh chỉ có phần dịch nghĩa tiếng Việt. Sự phân chia thành 10 điều này phù hợp với một bản Cảm Ứng Thiên khác [photocopy] theo dạng ấn tống, không ghi tên dịch giả. Chỉ có chữ Hán, phiên âm Hán Việt và dịch nghĩa với nhiều lỗi ấn loát ở phần chữ Hán. Cách phiên âm Hán Việt cũng chưa chính xác lắm. Phong cách tiếng Việt của bản dịch kèm chữ Hán này khá xưa, khoảng 40 – 50 năm về trước. Sự phân điều / đoạn hai bản này giống nhau ở chỗ dứt xong một điều rồi mới đưa ra tiêu đề và gọi thứ tự của điều. Thí dụ: Hết điều «Đức Thái Thượng nói rằng: Đều [điều] họa phước không tìm đến, chỉ tại mình vời đến, đều [điều] lành dữ báo ứng như bóng nọ theo hình» thì ghi «I. Giải nghĩa thứ nhứt». Cách đánh dấu này chứng tỏ bản dịch rất xưa, còn giữ y theo cách đánh dấu phân chương của cổ tịch Trung Quốc. Cổ tịch Trung Quốc thường ghi từ trên xuống dưới, từ phải qua trái, rồi ghi «Hữu đệ nhất chương» 右第一章 [phần bên phải là hết chương một], ghi theo tiếng Việt là «phần bên trên đây là hết chương một».

(5) Bản Cảm Ứng Thiên do Đức Văn Xương Đế Quân giáng bút diễn nghĩa ra thơ lục bát [45] không ghi chú thời gian và địa điểm Đức Văn Xương Đế Quân giáng bút, nhưng gồm có phần khai kinh và phần kinh tụng y như bản Cảm Ứng Thiên của phái Chiếu Minh. Tuy nhiên, tựa đề mỗi điều là một câu thơ đặt trước mỗi điều. Bản khác nhau của hai bản là ở điều 8. Bản phái Chiếu Minh ghi «Ấy là điều 8» ứng với bản chữ Hán photocopy «Chỉ vi đệ bát 只為第八» thì bản Tân Định ghi là «Là điều thứ tám sửa mình thiện lương». (Bản kinh mà Lý Lạc Cầu tuyển thì viết là «Chỉ Vi chương đệ bát» 指微章第八 [chỉ rõ điều tế vi], tôi thấy chữ chỉ vi 指微 này hợp lý hơn). Bản phái Chiếu Minh và bản Tân Định còn giống nhau ở chỗ: trước khi tụng kinh phải niệm danh tám vị Tiên Phật.

Bản do Lý Lạc Cầu tuyển có sự phân chia bố cục khác với hai bản của Cao Đài. Điều 2 ở hai bản Cao Đài thì bị ngắt ra ở cuối câu «Toán tận tắc tử» trở thành chương 2 [Thị Cảnh] và chương 3 [Giám Sát] ở bản Lý Lạc Cầu tuyển. Còn điều 5 [Chư Ác, thượng] và điều 6 [Chư Ác, hạ] ở hai bản Cao Đài được nhập thành chương 6 [Chư Ác] ở bản Lý Lạc Cầu tuyển. Điều này cũng hữu lý. Nhưng tôi theo sự phân điều / đoạn / chương của hai bản kinh của phái Chiếu Minh và Thánh Thất Tân Định. Toàn bộ kinh văn đã gọi là thiên 篇 thì nên chia nhỏ thành tiết節 hay đoạn 段, hoặc chương 章 (như bản Lý Lạc Cầu tuyển) nhưng để phù hợp hai bản kinh trên, tôi cũng gọi là điều.

Như vậy bố cục Cảm Ứng Thiên (Cảm Ứng Thiên) như sau: Mở đầu là phần khai kinh do Đức Thái Cực Chân Nhân giảng. Sau đó là phần kinh tụng chia làm 10 điều:

+ Điều 1 – Minh Nghĩa. Thuyết minh tổng quát về họa phúc, thiện ác và nhân quả báo ứng. Đây là tông chỉ của Cảm Ứng Thiên, bao gồm 16 chữ « Họa phúc vô môn duy nhân tự triệu, thiện ác chi báo như ảnh tùy hình». Chín điều còn lại là khai triển điều một.

+ Điều 2 – Giám Sát. Thuyết minh sự giám sát nghiêm nhặt của thần minh đối với từng hành vi, ngôn ngữ, và tâm ý mỗi người. Từ đó nhấn mạnh rằng con người cần tránh xa tội lỗi.

+ Điều 3 – Tích Thiện. Thuyết minh rằng con người cần tích lũy điều thiện. Điều thiện cần xem xét và thi hành bao quát 3 mặt thân, khẩu, ý.

+ Điều 4 – Thiện Báo. Thuyết minh sự báo ứng tốt đẹp xuất phát từ sự tích thiện.

+ Điều 5 và 6 – Chư Ác. Liệt kê những điều ác mà con người thường gây ra. Đây là cái nhân xấu, dẫn đến cái quả xấu (ác báo) được giải thích ở điều 7.

+ Điều 7 – Ác Báo. Giải thích những quả báo xấu do những điều ác mà con người gây ra [nói ở điều 5 và 6].

+ Điều 8 – Chỉ Vi. Chỉ ra cho thấy sự tế vi, nhấn mạnh sự linh ứng cấp thời: Ngay khi con người khởi tâm (thiện hoặc ác) thì cát thần hoặc hung thần đã chực sẵn để ra tay.

+ Điều 9 – Hối Quá. Nhấn mạnh sự ăn năn sám hối tội lỗi đã qua và phòng ngừa cho khỏi làm ác về sau. Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành (không làm mọi điều ác, phải phụng hành mọi điều thiện). Được vậy thì lâu ngày sẽ trở nên tốt đẹp (cát khánh), đó là phép chuyển đổi họa thành phúc.

+ Điều 10 – Luật Định. Những luật định ra về việc hành thiện và hành ác. Đức Thái Thượng dạy rằng nếu chúng ta đã biết luật định như vậy thì phải cố gắng làm lành lánh dữ.

V. VAI TRÒ CỦA CẢM ỨNG THIÊN TRONG VIỆC TU NỘI ĐAN (TU ĐƠN)

Cảm Ứng Thiên (Cảm Ứng Thiên) được Phật gia và Đạo gia coi trọng. Trong Cảm Ứng Thiên Trực Giảng của Hứa Chỉ Tịnh do Thượng Hải Phật Học Thư Cục ấn hành, chúng ta đọc được bài tựa của Ngài Ấn Quang Pháp Sư 印光法師 viết vào năm Mậu Thìn 戊辰 nhằm năm Dân Quốc 17 (1928). Ngài hết sức ca tụng Cảm Ứng Thiên và cổ vũ việc ấn tống phổ biến rộng khắp, đăng đàn thuyết giảng kinh này, coi đó là một công đức vô lượng. Cảm Ứng Thiên được đưa vào Đạo Tạng, đó là bằng chứng sự trọng thị của Đạo gia đối với kinh này. Nhưng toàn bộ Cảm Ứng Thiên chẳng nói chi đến phép luyện đan (tức là tu đan hay “tu đơn” theo cách nói của tín đồ Cao Đài) vậy thì tại sao kinh này được gọi là rất hệ trọng với người tu đan?

Một giai đoạn trong phép tu đan là trúc cơ 筑基 (đắp nền) mà căn bản của trúc cơ là luyện kỷ 煉己 tức là rèn luyện bản thân, hàng phục phàm tâm, tu dưỡng chân tâm, giữ gìn tam bảo [tinh – khí – thần]. Người tu hằng ngày tụng Cảm Ứng Thiên để nhớ lý Thiên nhân tương cảm mà hàng phục vọng tâm nhờ đó tâm hồn trong sạch, linh tánh sáng suốt.

Nhưng kỷ 己 là gì? Đời Thanh, Liễu Hoa Dương Chân Nhân 柳華陽真人 giải thích chữ kỷ 己 trong quyển Kim Tiên Chứng Luận 金仙證論 như sau: «Kỷ tức ngã tâm trung chi niệm nhĩ» 己 即 我 心 中 之 念 耳 (Kỷ tức là niệm trong tâm ta). Niệm ở đây là vọng niệm hay tạp niệm phát sinh từ tam độc [tham- sân- si]. Vọng niệm quấy nhiễu sự thanh tĩnh của người tu, phá hoại tam bảo, kết quả là tinh hao tổn, khí bất túc, và thần không vượng.

Vậy Cảm Ứng Thiên giúp người tu đan luyện kỷ, giữ gìn linh tánh, bảo tồn nguyên tinh, tức là cơ sở của tam hoa tụ đỉnh 三華聚頂.

VI. KHẢO SÁT NGÔN NGỮ TRONG CẢM ỨNG THIÊN

Trung Hoa Đạo Học Thông Điển nhận xét về ngôn ngữ của Cảm Ứng Thiên qua 20 chữ như sau: «Từ lý chất phác thâm áo, khái quát la liệt thiện ác ảnh hưởng khả vị vi hiển xiển u.» 詞 理 質 樸 深 奧 概 括 羅 列 善 惡 影 響 可 謂 微 顯 闡 幽 (Từ ngữ và lý lẽ chất phác, thâm áo, khái quát vô số thiện báo và ác báo, có thể gọi là làm rõ được sự tế vi và sâu kín). Dù theo giả thiết Cảm Ứng Thiên có từ đời Tấn [cách nay trên 1500 năm] hoặc cho rằng Kinh này bắt đầu từ đời Nam Tống [cách nay khoảng 700 năm] thì ta thấy ngôn ngữ của Cảm Ứng Thiênthuộc về Hán Ngữ cổ đại.

Về phương diện từ nghĩa 詞義 có những từ mà ý nghĩa hiểu khác với ngày nay, như hữu 友 ngày nay hiểu là bạn bè, nhưng nghĩa cổ là tình anh đối với em (huynh đối đệ thân ái 兄對弟親愛 [trong câu trung hiếu hữu đễ, điều 3- Tích Thiện]. Ngày nay còn hiểu hữu là tốt đẹp với nhau, thân ái với nhau (tương hảo, hỗ tương thân ái 相好, 互相親愛). Sự dời chuyển từ nghĩa theo thời gian (shift of meaning) là hiện tượng bình thường trong các ngôn ngữ. Một chữ khác là chữ lạp 臘 [trong câu hối lạp ca vũ, điều 6- Chư Ác] thì gần với nghĩa ngày nay là tháng chạp, đôi khi cũng nói là lạp nguyệt 臘月. Thí dụ nói lạp bát 臘八 tức là mồng tám tháng chạp âm lịch, là ngày người Trung Quốc nấu cháo [gồm ngũ cốc và các mứt quả khô] để cúng tế tổ tiên và thần linh.[46] Nhưng thời Tiên Tần, lạp là ngày tế lễ bách thần vào tháng mười âm lịch, đến Tần Thủy Hoàng thì bị dời vào tháng chạp. Trong thiên Ngũ Đố 五蠹 của Hàn Phi Tử 韓非子có câu: «Phù sơn cư nhi cốc cấp giả lâu lạp nhi tương di dĩ thủy» 夫 山 居 而 谷 汲 者 臘 而 相 遺 以 水 (Cư dân nơi sơn cốc lấy nước ở đó để dùng thì những ngày lễ lâu  lạp lấy nước để tặng nhau). Lâu là ngày tế lễ thần ẩm thực tại nước Sở vào tháng Hai âm lịch, Lạp ở đây chỉ có nghĩa là ngày tế lễ bách thần vào tháng 10 âm lịch.[47] Chữ hoặc 或 trong Hán ngữ hiện đại thường mang ý có lẽ/ hoặc là, nhưng trong cổ văn nó còn là một vô định đại từ, dịch là «có người» tương đương cụm từ 有的人 trong Hán ngữ hiện đại. Thí dụ, Tư Mã Thiên viết Báo Nhiệm An Thư 報任安書 có câu: «Nhân cố hữu nhất tử, hoặc trọng ư Thái Sơn, hoặc khinh ư hồng mao» 人 固 有 一 死 或 重 於 泰 山 或 輕 於 鴻 毛 (Người ta ai cũng có một lần chết, có người xem nó nặng như Thái Sơn, có người xem nó nhẹ như lông hồng).[48] Điều 5 trong Cảm Ứng Thiên mở đầu bằng chữ Cẩu hoặc 苟或, phải dịch là «Nếu như có người mà…». Ở Điều 2 có câu: «Đoạt kỳ kỷ toán» 奪其紀算 và: «Phàm nhân hữu quá, đại tắc đoạt kỷ, tiểu tắc đoạt toán» 凡 人 有 過 大 則 奪 紀 小 則 奪 算. Kỷ và toán là hai khái niệm cổ mà Hán ngữ hiện đại đã loại bỏ ý nghĩa này: Kỷ là 12 năm và toán là 100 ngày. Các tự/từ điển như Khang Hi, Từ Hải, Học Sinh Cổ Hán Ngữ Từ Điển, Cổ Hán Ngữ Thường Dụng Tự Tự Điển đều giải thích Kỷ 紀 là đơn vị thời gian bằng 12 năm. Nhưng Toán thì không còn xem là một đơn vị thời gian nữa. Tuy nhiên Cát Hồng Bão Phác Tử Nội Thiên đã định nghĩa Kỷ là 300 ngày và Toán là 3 ngày (Kỷ giả tam bách nhật dã 紀 者 三 百 日 也.Toán giả tam nhật dã 算 者 三 日 也). Kỷ toán dùng chung với nhau hiểu là tuổi thọ. Hai câu trên phải dịch là «bị giảm tuổi thọ» và «Hễ người nào có lỗi thì mỗi lỗi lớn bị trừ 12 năm, mỗi lỗi nhỏ bị trừ 100 ngày». Trong tiếng Việt ngày nay, nhiều người thích dùng từ thập kỷ với ý là 10 năm [thí dụ: thập kỷ 90, lẽ ra phải nói là thập niên 90]. Nóithập kỷ như vậy là sai vì thập kỷ sẽ có nghĩa là 120 năm.

Về phương diện ngữ pháp, phần lớn câu văn được viết ngắn gọn, ẩn chủ ngữ. Cảm Ứng Thiên dùng rất ít hư tự 虛字 tức là chữ có chức năng ngữ pháp (function words), đây là điều đặc biệt hiếm thấy trong cổ văn. Hư tự được dùng trong kinh này thường là: Thị dĩ 是以, chi 之, tắc 則, hựu 又, kỳ 其, giả 者, dã 也, ư 於, nhược 若, cẩu 苟, tất 必, phù 夫, sở 所, sở dĩ 所以, hồ胡…

Về biện pháp tu từ, Cảm Ứng Thiên thường dùng phép tịnh đề 并提 mà ta hay gọi là cài răng lược (có thể xem là tiểu đối 小對). Phép tu từ này cũng thường thấy trong tiếng Việt, như ta nói trăm cay ngàn đắng, gió thảm mưa sầu, cười đau khóc hận… Cảm Ứng Thiên có những cách nói như vậy, thí dụ: căng cô tuất quả, biếm chính bài hiền, lăng cô bức quả, thương thai phá noãn… Một phép tu từ khác là tỉ dụ 比喻 chỉ dùng một lần nơi điều 7: «Hựu uổng sát nhân giả, thị dịch đao binh nhi tương sát dã. Thủ phi nghĩa chi tài, thí như lậu phụ cứu cơ, trấm tửu chỉ khát. Phi bất tạm bão, tử diệc cập chi.» 又 枉 殺 人 者 , 是 易 刀 兵 而 相 殺 也 . 取 非 義 之 財 者 , 譬 如 漏 脯 救 饑 , 鴆 酒 止 渴 , 非 不 暫 飽 死 亦 及 之 (Lại có kẻ giết oan người khác [sau này cũng bị giết lại] giống như đổi đao gươm mà giết nhau. Giữ của cải phi nghĩa [để làm giàu] cũng giống như dùng thịt độc rượu độc để đỡ đói khát, nhưng chẳng tạm no lòng mà khiến cái chết xảy đến cho mình).

Nói chung, ngôn ngữ của Cảm Ứng Thiên giản dị chất phác, không dùng điển cố văn học gì, không dùng những phép tu từ cầu kỳ trong văn bản hơn 1200 chữ Hán.[49] Ta thấy tác giả của quyển kinh khuyến thiện này không nhắm vào việc sáng tác văn chương, mà chỉ muốn dùng những lời lẽ giản phác để bất cứ ai cũng hiểu được, nhằm xiển dương lẽ Thiên nhân tương cảm và nhân quả báo ứng. Có lẽ đó cũng là một trong những lý do khiến cho kinh phổ biến khắp mọi giai tầng trong xã hội.

VII. BÃO PHÁC TỬ NỘI THIÊN VÀ CẢM ỨNG THIÊN

Bão Phác Tử Nội Thiên 抱朴子內篇 gồm 20 quyển là tác phẩm tôn giáo, triết học và khoa học kỹ thuật do Cát Hồng 葛洪 [283-363] đời Tấn trứ tác. Đây là một tác phẩm bất hủ của Trung Quốc có giá trị độc đáo trên lĩnh vực Đạo giáo sử, hoá học sử và y học sử mà bất cứ ai nghiên cứu về Đạo giáo Trung Quốc đều phải tìm đọc. Giá trị của tác phẩm này bao gồm hai điểm: (1) Giá trị sử liệu Đạo giáo và (2) giá trị sử liệu của khoa học kỹ thuật Trung Quốc cổ đại.

Cát Hồng tự là Trĩ Xuyên 稚川, hiệu là Bão Phác Tử 抱朴子 (đời gọi là Tiểu Tiên Ông 小仙翁), quê ở Đan Dương 丹陽, Cú Dung 句容 (nay thuộc Giang Tô 江蘇), xuất thân là sĩ tộc thế gia, là hào tộc ở Giang Nam 江南. Ông tổ là Cát Phổ Lư 葛浦廬, làm Phiêu kỵ đại tướng quân 驃騎大將軍. Tổ phụ là Cát Hệ, làm Tam Quốc Ngô nhậm lại bộ thị lang 三國吳任吏部侍郎và Ngự sử trung thừa 御史中丞. Cha ông là Cát Đễ Tiên 葛悌先, làm Ngô nhậm ngũ quan lang 吳任官郎. Thuở nhỏ Cát Hồng lập chí làm văn nho để chấn hưng Nho giáo. Ông nhậm chức Tư Nghị Tham Quân 諮議參軍 nhưng vì thời thế ông từ quan ở ẩn, bỏ Nho theo Đạo, chuyên cần luyện đan ở La Phù Sơn 羅浮山, Quảng Châu 廣州. Đó là năm Quang Hi 光熙 nguyên niên (tức năm 306) đời Tây Tấn. Từ luyện đan, ông tìm cầu thuật trường sanh bất tử, hết sức đề xướng thần tiên Đạo giáo. Bão Phác Tử Nội Thiên được ông viết trong thời kỳ ở La Phù Sơn đến năm Kiến Vũ 建武 nguyên niên (tức năm 317) đời Đông Tấn thì xong. Cát Hồng học đạo nơi Trịnh Tư Viễn 鄭思遠 tức là Trịnh Ẩn 鄭隱) mà không học nơi Cát Huyền 葛玄 (Cát Huyền là chú của Cát Hồng, vốn là sư phụ của Trịnh Tư Viễn). Hệ thống truyền thừa đan đạo này như sau: (1) Tả Từ 左慈 (Tả Nguyên Phóng 左元放) truyền đạo (các bộ kinh: Bạch Hổ Thất Biến Kinh 白虎七變經, Thái Thanh Kim Dịch Thần Đan Kinh 太上金液神丹經, Tam Nguyên Chân Nhất Diệu Kinh 三元真一妙經, Hoàng Đế Cửu Đỉnh Thần Đan Kinh 皇帝九鼎神丹經, …) cho Cát Huyền 葛玄 (tự Hiếu Tiên 孝先, đời gọi là Cát Tiên Ông 葛仙翁). (2) Cát Huyền truyền đạo (bộ kinh và phù lục gọi là Động Thần Kinh 洞神經, gồm Chính Nhất Pháp Văn 正一法文, Tam Tinh Nội Văn 三星內文, Ngũ Nhạc Chân Hình Đồ 五岳真形圖, Động Huyền Ngũ Phù 洞玄五符, …) cho Trịnh Tư Viễn 鄭思遠 (tức Trịnh Ẩn 鄭隱). (3) Trịnh Tư Viễn truyền đạo cho Cát Hồng葛洪.

Cát Hồng kế thừa và sửa đổi lý luận về thần tiên thuở ban đầu của Đạo giáo. Ông không những tổng kết toàn bộ những lý luận về thần tiên từ đời Tấn về trước mà còn tổng kết các phép tu luyện như thần tiên phương thuật (bao quát thủ nhất, hành khí, đạo dẫn, phòng trung thuật, v.v) trước đời Tấn. Đồng thời ông cũng nhấn mạnh sự kết hơp thần tiên phương thuật với hệ thống đạo đức của Nho giáo: «Kẻ mong thành thần tiên, phải lấy trung, hiếu, hoà, thuận, nhân, tín làm gốc. Nếu ai không tu sửa đức hạnh mà vụ cầu phương thuật thì đều không được trường sinh.»[50] Ông dung hợp đạo đức Nho giáo với các giới luật của Đạo giáo, buộc tín đồ phải tuân thủ nghiêm nhặt: «Xem qua các giới luật của Đạo giáo, chẳng có chỗ nào mà không nói rằng kẻ mong cầu trường sinh phải tích thiện lập công đức, thể hiện lòng từ ái với loài vật, khoan thứ bản thân và người khác, thương yêu côn trùng, vui với điều tốt của người, thương xót cảnh khốn khổ của người, giúp tiền của cho người bị nguy cấp, cứu người bị khốn cùng, không xuống tay tổn thương sinh vật, miệng không khuyến khích tai họa, thấy người được như mình được, thấy người mất mát như mình mất mát, không tự cho mình cao quý, không tự khen mình, không ganh ghét kẻ hơn mình, không siểm nịnh để lén hại người. Có vậy mới là người đức hạnh, thụ hưởng phúc trời, làm gì cũng thành tựu, và có thể mong thành thần tiên.»[51]

Bão Phác Tử Nội Thiên chủ yếu giảng về thần tiên phương dược, quỉ quái biến hóa, dưỡng sinh diên mệnh, trừ tà khử họa, như lời của Cát Hồng nói: «Nội thiên ngôn thần tiên phương dược, quỉ quái biến hóa, dưỡng sinh diên niên, nhương tà khước họa chi sự, thuộc Đạo gia» 內 篇 言 神 仙 方 藥 , 鬼 怪 變 化 ,養 生 延 年 , 禳 邪 卻 禍 之 事 , 屬 道 家Nội thiên phản ánh tư tưởng của Cát Hồng, tức là một lý luận tôn giáo dung hợp Đạo học của Hoàng Lão [Hoàng Đế và Lão Tử], thuyết âm dương ngũ hành, và thuyết thiên nhân cảm ứng. Hạt tâm trong lý luận của Cát Hồng là Huyền 玄, còn mục tiêu của ông là Thần 神, Tiên 仙, và Trường sinh 長生, và con đường tu luyện là thể Đạo đắc tiên 體道得仙 bao quát 4 điểm cụ thể sau đây:

(1) Lý luận về thần tiên:

Trong quyển 1 (Sướng Huyền 暢玄) của bộ Bão Phác Tử Nội Thiên, Cát Hồng trình bày vũ trụ quan rằng: bản thể vũ trụ là Huyền (tương đương khái niệm Đạo hay Nhất). Ông nói: «Huyền giả, tự nhiên chi thủy tổ, nhi vạn thù chi đại tông dã» 玄 者 自 然 之 始 祖 而 萬 殊 之 大 宗 也 (Huyền là thủy tổ của cõi tự nhiên, là cái gốc lớn của vạn vật sai biệt). Huyền sản sinh ra thiên địa và vạn vật. Huyền là cơ sở lý luận của Cát Hồng về phương thuật và thần tiên luận. Trong 5 quyển Luận Tiên 論仙, Đối Tục 對俗, Chí Lý 至理, Tắc Nan 塞難, và Biện vấn 辦問, ông khẳng định thần tiên là có thật và con người có thể học hỏi để thành thần tiên. Thần tiên, theo ông nghĩ, là những người «lấy thuốc để dưỡng sinh, lấy thuật số để kéo dài mạng sống, làm cho trong thân không sinh bệnh tật, làm cho hoạn nạn bên ngoài không xâm nhập vào mình» (Dĩ dược vật dưỡng sinh, dĩ thuật số diên mệnh, sử nội tật bất sinh, ngoại hoạn bất nhập)以 藥 物 養 生, 以 術 數 延 命 ,使 內 疾 不 生, 外 患 不 入, nhờ thế sẽ trường sinh cửu thị (tức là trường sinh bất tử). Con người sở dĩ chẳng gặp tiên vì tiên tục đôi đường thanh trọc khác nhau, nếu ai không đắc đạo thì chẳng bao giờ gặp tiên. Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế xưa kia cầu thành tiên mà không được vì chẳng chịu tu. Muốn thành tiên thì phải:

(a) chí thành tin tưởng là có tiên,

(b) tìm minh sư và đêm ngày chuyên cần tu luyện,

(c) điềm tĩnh vô dục,

(d) tích thiện, lập công quả, lòng từ bi trải rộng khắp chúng sinh. Lập được 300 việc thiện thì thành địa tiên, 1200 việc thiện thì thành thiên tiên. Ông còn nhấn mạnh: «Dục cầu tiên giả, đương dĩ trung hiếu hòa thuận nhân tín vi bản. Nhược đức hạnh bất tu, nhi đản vụ phương thuật, giai bất đắc trường sinh dã» 欲 求 仙 者 , 當 以 忠 孝 和 順 仁 信 為 本 . 若 德 行 不 修 , 而 但 務 方 術 ,皆 不 得 長 生 也 (Kẻ mong thành tiên phải lấy trung, hiếu, hòa thuận, nhân ái, tín thành làm gốc. Nếu không tu dưỡng đức hạnh mà vụ cầu những phương thuật thì không thể sống lâu được).

(2) Tiên đạo phương thuật:

Các quyển Kim Đan 金丹, Hoàng Bạch 黃白, Tiên Dược 仙藥, Vi Chỉ 微旨, Tạp Ứng 雜應, ThíchTrệ 釋滯 và Thủ Chân 守真 của Bão Phác Tử Nội Thiên luận về phương thuật của tiên gia mà ba điều quan trọng là hành khí, phòng trung, và phục tiên dược. Phục thực kim đan (tiên dược) là mấu chốt của đạo trường sinh bất tử. Ông nói: «Trường sinh chi đạo bất tại tế lễ sự quỉ thần dã, bất tại đạo dẫn dữ khuất thân dã, thăng tiên chi yếu, tại thần đan dã» 長 生 之 道 不 在 祭 禮 事 鬼 神 也 , 不 在 導 引 與 屈 伸 也 , 升 仙 之 要 ,在 神 丹 也 (Đạo trường sinh chẳng phải ở chỗ thờ cúng quỉ thần, cũng chẳng phải ở phép đạo dẫn vận động co duỗi, mà điều quan trọng để phi thăng thành tiên là thần đan vậy).

(3) Đạo giáo pháp thuật:

Bão Phác Tử Nội Thiên ghi chép những pháp thuật lưu hành vào đời Ngụy Tấn như các phép tàng hình, ẩn thân biến hóa thành những chủng loại động vật khác nhau, phép địa hành một ngày đi ngàn dặm, v.v. trong các quyển Tạp Ứng 雜應, Chí Lý 至理, Đăng Thiệp 登涉, và Địa Chân 地真.

(4) Kỹ thuật Trung Quốc cổ đại:

Các quyển Kim Đan và Hoàng Bạch ghi chép cụ thể về phép luyện kim, coi như là thành tựu của phép luyện đan trước thời Ngụy Tấn mà Joseph Needham gọi là một thứ giả khoa học (pseudo-science), [52] là mở đường cho ngành hóa học Trung Quốc.

Trên đây là giới thiệu sơ lược về Cát Hồng và tác phẩm rất danh tiếng của ông: Bão Phác Tử Nội Thiên. Sau đây chúng ta đối chiếu một phần của quyển 6 [Vi Chỉ] trong Nội Thiên[53] với điều 2 của Cảm Ứng Thiên.

 Bão Phác Tử- quyển 6: Vi Chỉ

天 地 有 司 過 之 神, 隨 人 所 犯 輕 重 , 以 奪 其 算 , 算 減 則 人 貧 耗 疾 病 , 屢 逢 憂 患 , 算 盡 則 人 死 , 諸 應 奪 算 者 有 數 百 事, 不 可具 論 . 又 言 身 中 有 三 尸 , 三 尸 之 為 物 雖 無 形 而 實 魂 靈 鬼 神 之 屬 也 . 欲 使 人 早 死 , 此 尸 當 得 作 鬼, 自 放 縱 游 行 , 享 人 祭 酹 . 是 以 每 到 庚 申 之 日, 輒 上 天 白 司 命 , 道 人 所 為 過 失 . 又 月 晦 之 夜 , 灶 神 亦 上 天 白 人 罪 狀 , 大 者 奪 紀 , 紀 者 , 三 百 日 也 . 小 者 奪 算 .算 者, 三 日 也 .

Thiên địa hữu Tư Quá chi thần, tùy nhân sở phạm khinh trọng, dĩ đoạt kỳ toán, toán giảm tắc nhân bần hao tật bệnh, lũ phùng ưu hoạn, toán tận tắc nhân tử, chư ưng đoạt toán giả hữu sổ bách sự, bất khả cụ luận. Hựu ngôn thân trung hữu Tam Thi, Tam Thi chi vi vật, tuy vô hình nhi thực hồn linh quỉ thần chi thuộc dã. Dục sử nhân tảo tử, thử thi đương đắc tác quỉ, tự phóng túng du hành, hưởng nhân tế loại. Thị dĩ mỗi đáo canh thân chi nhật, triếp thướng thiên bạch Tư Mệnh, đạo nhân sở vi quá thất. Hựu nguyệt hối chi dạ, Táo thần diệc thướng thiên bạch nhân tội trạng. Đại giả đoạt kỷ. Kỷ giả, tam bách nhật dã. Tiểu giả đoạt toán. Toán giả, tam nhật dã. (Trời đất có thần Tư Quá, tùy theo tội nặng hay nhẹ của con người mà bớt tuổi của họ; tuổi giảm thì nghèo, tốn hao, và tật bệnh, thường gặp lo rầu;tuổi hết thì chết; những sự việc cần phải bớt tuổi có đến vài trăm việc, nên không thể kể ra hết ở đây. Lại nói trong thân thể có Tam Thi. Tam Thi là vật, tuy vô hình nhưng thuộc loại hồn linh quỉ thần; chúng muốn cho con người mau chết sớm để chúng thành quỉ thoát khỏi xác con người mà phóng túng du hành, hưởng thụ vật cúng tế của người. Cho nên mỗi khi đến ngày canh thân, chúng bay lên trời báo cáo với thần Tư Mệnh về tội lỗi của con người. Lại nữa, mỗi đêm cuối tháng âm lịch, Táo thần cũng bay lên trời báo cáo tội trạng của con người. Tội lớn thì bớt kỷ. Kỷ là 300 ngày. Tội nhỏ bớt toán. Toán là 3 ngày).

 Cảm Ứng Thiên: điều 2

天 地 有 司 過 之 神 , 依 人 所 犯 輕 重 , 以 奪 人 算 . 算 減 則 人 貧 耗 多 逢 憂 患 , 人 皆 惡 之 , 刑 禍 隨 之 , 吉 慶 避 之 , 惡 星 災 之 , 算 盡 則 死 . […] 又有 三 尸 神 在 人 身 中 , 每 到 庚 申 之 日, 輒 上 詣 天 曹 ,言 人 罪 過 , 月 晦 之 日 , 灶 神 亦 然 . 凡 人 有 過 , 大 則 奪 紀 , 小 則 奪 算 .

Thiên địa hữu Tư Quá chi thần, y nhân sở phạm khinh trọng, dĩ đoạt nhân toán. Toán giảm tắc nhân bần hao đa phùng ưu hoạn, nhân giai ố chi, hình họa tùy chi, cát khánh tị chi, ác tinh tai chi, toán tận tắc tử.[…] Hựu hữu Tam Thi thần tại nhân thân trung, mỗi đáo canh thân chi nhật, triếp thướng nghệ thiên tào, ngôn nhân tội quá, nguyệt hối chi nhật, táo thần diệc nhiên.Phàm nhân hữu quá, đại tắc đoạt kỷ, tiểu tắc đoạt toán. (Trời đất có thần Tư Quá,tùy theo tội nặng hay nhẹ của người mà bớt tuổi của họ.Tuổi giảm ắt người bị nghèo, hao tốn, và gặp nhiều lo rầu, người đời ghét bỏ, tai họa đi theo, không được vui mừng may mắn, ác tinh gieo họa, tuổi hết thì chết.[…] Lại có thần Tam Thi trong thân thể con người, mỗi khi đến ngày canh thân thì bay thẳng đến Thiên tào báo cáo tội lỗi của con người; ngày cuối tháng âm lịch, ông Táo cũng thi hành y như vậy. Người hễ có lỗi, lỗi lớn thì bớt bị kỷ, lỗi nhỏ thì bị bớt toán).

Qua sự so sánh trên đây, chúng ta thấy nhiều câu văn gần như y hệt nhau. Điều đó chứng minh rằng nếu Cảm Ứng Thiên xuất hiện sau Bão Phác Tử Nội Thiên (cứ cho là khoảng đời Tống) thì tác giả của Cảm Ứng Thiên không thể nào là Đức Thái Thượng Lão Quân được vì lẽ nào bậc thần tiên lại sao chép văn chương thế nhân. Trở lại với giả thiết của Lý Cương, ta thấy họ Lý suy luận có phần hợp lý: Một đạo sĩ ẩn danh vào cuối đời Tống đã dựa trên những tác phẩm như Thái Bình Kinh của đời Đông Hán và Bão Phác Tử Nội Thiên thời Ngụy Tấn đồng thời vận dụng tư tưởng và luân lý tam giáo dung hợp với những qui ước đạo đức phổ quát mà sáng tác ra Cảm Ứng Thiên. Để tăng trọng lượng của tác phẩm, đạo sĩ đã mượn danh Thái Thượng Lão Quân là tác giả.

TẠM KẾT

Bài viết này góp phần tìm hiểu Cảm Ứng Thiên của Đạo giáo Trung Quốc, tức là Kinh Cảm Ứng của Đạo Cao Đài. Tuy còn có những vấn đề mà cho đến nay người ta không thể nào xác quyết được (như vấn đề tác giả và thời gian hình thành tác phẩm), nhưng tác phẩm khuyến thiện tối cổ này vẫn có giá trị nhất định và là một trong những nhân tố rèn luyện đạo đức cho con người Đông phương. Sách khuyến thiện (thiện thư) có ba vấn đề: (1) ấn tống phổ biến, (2) đọc hiểu nội dung, và (3) thi hành (tức hành thiện). Trong đó, hành thiện là quan trọng nhất, như Cảm Ứng Thiên đã khẳng định: «Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành» 諸 惡 莫 作 眾 善 奉 行 (chớ làm mọi điều ác, hãy làm mọi điều thiện).

         LÊ ANH MINH

CHÚ THÍCH

[1] Người Việt ở miền Nam Việt Nam  nhất là tín đồ Cao Đài  dùng từ «phò loan».

[2] Cát Nguyên Chiêu Trị 吉元昭治, Đạo Giáo Dữ Bất Lão Trường Thọ Y Học 道教與不老長壽醫學 (nguyên tựa: 道教と不老長壽の醫學), bản dịch Hán văn của Dương Vũ 楊宇, Thành Đô xuất bản xã (=xbx), 1992, tr. 81.

[3] Phần phiên âm và dịch chú kinh văn Cảm Ứng Thiên cũng như phần khảo dịch và chú thích Âm Chất Văn và Công Quá Cách được trình bày trong quyển Thiện Thư trong thư tịch Đạo giáo của Lê Anh Minh.

[4] Nguyên văn: khắp phố phường ngõ hẻm trong thiên hạ chẳng nơi nào mà kinh không truyền bá đến (phổ thiên hạ nhai cù lý hạng, vô bất truyền bố).

[5] Ngô Phong 吳楓 chủ biên, Trung Hoa Đạo Học Thông Điển 中華道學通典, Nam Hải Xuất Bản Công Ty, Trung Quốc, 1994, tr. 785.

[6] Khanh Hy Thái 卿希泰 chủ biên, Trung Quốc Đạo Giáo 中國道教, Đông Phương xbx Trung Tâm, Thượng Hải, 1996, quyển 2, tr. 124.

[7] Cát Nguyên Chiêu Trị, sđd., tr. 80.

[8] Lý Cương 李剛, Đạo Giáo Sinh Mệnh Lý Luận 道教生命理論, Tứ Xuyên Nhân Dân xbx, 1994, tr. 133.

[9] Chu Việt Lợi 朱越利, Đạo Kinh Tổng Luận 道經總論, Liêu Ninh Giáo Dục xbx, 1991, tr. 341.

[10] Lý Lạc Cầu 李樂俅, Tiên Học Diệu Tuyển 仙學妙選, Chân Thiện Mỹ xb, Đài Bắc, tr. 6.

[11] Ngô Phong, sđd., tr. 1013.

[12] Holmes Welch, Đạo Chi Phân Kỳ 道之分歧 (Taoism, the Parting of the Way), Boston, 1967, tr. 140. (Probably composed in the 11th century A.D., these came to be widely distributed by monasteries and by charitable societies).

[13] Joseph Needham, Science & Civilisation in China, Vol. 2, p. 159. (The foundations of the patrology, the Tao Tsang, were laid in +745. Many Taoist books were written, such as the Yin fu Ching [Harmony of the Seen and the Unseen] of Li Chuan. Many distinguished men, such as Li Pai, were practising Taoist initiates. Under strong pressure to compete with Confucianism and Buddhism, the Taoists now appeared in the role of preachers of conventional morality, hence the Thai Shang Kan Ying Phien [Tractate of Actions and Retributions] of the early +11th century; following the Kung Kuo Ko [Examination of Merits and Demerits] attributed to the famous alchemist and hsien Luš Tung Pin.) Công Quá Cáchcó nhiều chủng loại, bản mà Needham cho là của Lữ Động Tân vốn được gọi: Thập Giới Công Quá Cách 十誡功過格, đã được Léon Wieger dịch sang tiếng Pháp). Tác giả của Âm Phù Kinh 陰符經 (mà Needham bảo do Lý Thuyên 李筌 sáng tác) là một vấn đề hấp dẫn khác. Theo các học giả Trung Quốc hiện đại, chưa rõ ai là tác giả của Âm Phù Kinh. BảnÂm Phù Kinh in trong Trung Quốc Khí Công Đại Thành 中國氣功大成, Phương Xuân Dương 方春陽 chủ biên, Cát Lâm Khoa Học Kỹ Thuật xbx, 1999, tr. 383, ghi là Lý Thuyên tập chú (chứ không phải là tác giả như Needham bảo).

[14] Encyclopedia of Religion, vol. 14, New York Macmillan, 1987, mục từ Taoism, tr. 298. Ko Hung asserted in his Pao-p’u-tzu that without the practice of virtues it was useless to wish to become an immortal. His text provided a list of good and evil deeds that remained the code of popular morality. Morality tracts [shan-shu] many of which were based on Ko Hung’s list, began to appear in the twelfth century. The most famous are the Kan-ying p’ien [Book of Divine Responses to the Conduct of Men] and the Kung-kuo ke [Diagram of Meritorious Actions and Sins].

[15] Khanh Hy Thái, Sđd., quyển 2, tr. 125 và Lý Cương, Sđd., tr. 144-145.

[16] Holmes Welch, Sđd., tr. 139-140.

[17] Âm Chất Văn đã được P.Carus và D.T. Suzuki dịch ra tiếng Anh với nhan đề Yin Chih Wen – The Tract of the Quiet Way [nxb Open Court Publishing Co.,1906] [H. Welch, Sđd., tr. 140]. Trong Sources of Chinese Tradition, Vol. II, của WM. Theodore de Bary, Wing-tsit Chan, và Chester Tan, có in bản dịch tiếng Anh của Thái Thượng Cảm Ứng Thiên (The Treatise of the Most Exalted One on Moral Retribution, tr. 287-290) và Âm Chất Văn (The Silent Way of Recompense, tr. 290-293).

[18] James Legge (Lý Nhã Các 理雅閣, 1815 – 1897) là giáo sĩ Hội Truyền Giáo London (the London Missionary Society), cũng là một Hán học đại gia cự phách. Xem tiểu sử của J. Legge trong: Dương Ngọc Dũng & Lê Anh Minh, Kinh Dịch và Cấu Hình Tư Tưởng Trung Quốc, nxb Khoa Học Xã Hội, 1999, tr. 631-632.

[19] Tức là Thái Hạo 太皓, Viêm Đế 炎帝, Hoàng Đế 黃帝, Thiếu Hạo 少皓 và Chuyên Húc 顓頊.

[20] Ngũ Hoa 伍華 chủ biên, Chu Dịch Đại Từ Điển 周易大辭典, Quảng Châu, 1993, tr. 1009.

[21] Khanh Hy Thái, Sđd., quyển 2, tr. 124.

[22] Ngũ giới cấm 五戒禁: (1) Bất sát sinh 不殺生, (2) Bất du đạo 不偷盜, (3) Bất tà dâm 不邪淫, (4) Bất vọng ngữ 不妄語, và (5) Bất ẩm thực tửu nhục 不飲食酒肉.

[23] Ninh Chí Tân 寧志新 chủ biên, Đạo Giáo Thập Tam Kinh 道教十三經, Hà Bắc, 1994, quyển hạ, tr. 1051 (Bão Phác Tử Nội Thiên, quyển 3 – Đối Tục).

[24] Holmes Welch, Sđd., tr. 140 -141

[25] Nam Hoa Kinh 南華經, Thu Thủy 秋水.

[26] Nam Hoa Kinh 南華經, Tề Vật Luận 齊物論.

[27] Mạnh Tử 孟子, Tận Tâm [thượng] 盡心[上].

[28] Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ Kim Dịch 太乙金華宗旨今譯, Tứ Xuyên Khoa Học Kỹ Thuật xbx, Thành Đô, 1995, tr. 127.

[29] Luận ngữ 論語thiên Nhan Uyên 顏淵 (12.2)

[30] 夫心起於善, 善雖未為而吉神已隨之. 或心起於惡, 惡雖未為而凶神已隨之. Phù tâm khởi ư thiện, thiện tuy vị vi nhi cát thần dĩ tùy chi. Hoặc tâm khởi ư ác, ác tuy vị vi nhi hung thần dĩ tùy chi.

[31] Mạnh Tử 孟子, Công Tôn Sửu [thượng] 公孫丑[上].

[32] Luận Ngữ 論語, Nhan Uyên 顏淵.

[33] Luận Ngữ 論語, Học Nhi 學而.

[34] Mạnh Tử 孟子, Tận Tâm [thượng] 盡心[上].

[35] Nguyên danh là Tịnh Minh Trung Hiếu Đạo 淨明忠孝道, gọi tắt là Tinh Minh Đạo. Tịnh Minh Đạo hưng khởi ở Nam Xương 南昌, Tây Sơn 西山, vào giữa đời Tống và đời Nguyên, thờ Hứa Tốn 許遜 (239-?) làm tổ sư. Thực chất Tịnh Minh Đạo là bắt nguồn từ phái Linh Bảo 靈寶 còn Hứa Tốn là dòng dõi thế gia thời Ngụy Tấn, năm Thái Khang 太康 nguyên niên [280 cn] đời Tây Tấn (vua Vũ Đế 武帝 tức Tư Mã Viêm 司馬炎) nhậm chức huyện lệnh ở huyện Tịnh Dương 旌陽, quận Thục 蜀, sau từ quan đi ở ẩn, rồi lấy Nam Xương Tây Sơn làm trung tâm truyền đạo.

[36] Vương Hữu Tam 王友三 chủ biên, Trung Quốc Tôn Giáo Sử 中國宗教史, tập I, Tề Lỗ xbx, Nam Kinh, 1991, tr.101.

[37] Lưu Ngọc Kiến 劉玉建, Trung Quốc Cổ Đại Quy Bốc Văn Hóa 中國古代龜卜文化, Quảng Tây Sư Phạm Đại Học xbx, 1993. tr. 88- 94.

[38] Y Doãn 伊尹: Tên là Chí 摯, tướng giỏi nhà Thương; giúp Thành Thang 成湯 phạt vua Kiệt 桀 nhà Hạ và lập nhà Thương, Nhờ công lớn, được Thành Thang phong làm A Hành 阿衡(tể tướng). Thành Thang mất, cháu là Thái Giáp 太甲 lên ngôi, nhưng vô đạo, bị Y Doãn đày ra đất Đồng 桐. Sau ba năm, Thái Giáp hối lỗi, được trở về đất Bạc 亳. Y Doãn được 100 tuổi thì mất, hưởng lễ tang như bậc thiên tử. Mạnh Tử xem Y Doãn là thánh nhân. (Xem thêm: Từ Hải, tr. 90; Thư Kinh các chương: Y huấn 伊訓, Thái Giáp 太甲, Hàm hữu nhất đức咸有一德).

[39] Lý Viễn Quốc 李遠國Đạo Giáo Khí Công Dưỡng Sinh Học 道教氣功養生學, Tứ Xuyên Tỉnh Xã Hội Khoa Học xbx, Thành Đô, 1988, tr. 95.

[40] Khanh Hy Thái, Sđd., quyển 3, tr. 172.

[41] Đạo Gia Nhiếp Sinh Bí Pháp 道家攝生秘法, Nội Mông Cổ Nhân Dân xbx, 1992, tr. 16.

[42] Thượng Hải Phật Học Thư Cục 上海佛學書局 ấn hành, không ghi năm.

[43] Ngô Phong 吳楓 chủ biên, Trung Hoa Đạo Học Thông Điển 中華道學通典, Nam Hải Xuất Bản Công Ty, 1994, tr. 785-790.

[44] Lý Lạc Cầu 李樂俅, Tiên Học Diệu Tuyển 仙學妙選, Chân Thiện Mỹ 真善美 xuất bản, Đài Bắc, [năm ?].

[45] Thánh Thất Tân Định ấn tống, giấy phép xuất bản 18-11-1964, khổ nhỏ 12 x 14 cm, 32 trang, in chung với Cứu Khổ Chơn Kinh, Chú Vãn Sanh, Bài Thần Chú Cứu Nạn của Đức Lữ Tổ.

[46] Nhà văn Trung Quốc hiện đại là Lão Xá 老舍 (1899-1996) mô tả món cháo thập cẩm của ngày Lạp bát hết sức sinh động trong đoản thiên Tiết Xuân Bắc Kinh 北京的春節 Bắc Kinh đích Xuân Tiết) và dí dỏm gọi món cháo này là «cuộc triển lãm nông nghiệp ở qui mô nhỏ» (小型的農業展覽會Tiểu hình đích nông nghiệp triển lãm hội).

[47] Xem Điền Thụy Quyên 田瑞娟 và Trương Liên Vinh 張聯榮 chủ biên, Văn Ngôn Văn Yếu Lãm 文言文要覽, Đại Học Bắc Kinh xb, 1988, tr. 3.

[48] Xem Vương Lực 王力 chủ biên, Cổ Hán Ngữ Thường Dụng Tự Tự Điển 古漢語常用字字典, Thương Vụ Ấn Thư Quán, Bắc Kinh, 1993, tr. 127, và Trần Cao Xuân 陳高春 chủ biên,Thực Dụng Hán Ngữ Ngữ Pháp Đại Từ Điển 實用漢語語法大辭典, Bắc Kinh, 1989, tr. 597.

[49] Điều này ngược với Âm Chất Văn, tuy là một bản văn rất ngắn nhưng Âm Chất Văn có khá nhiều điển cố văn học, có lẽ tác giả muốn nhắm vào tầng lớp sĩ nhân hơn là người bình dân.

[50] Dục cầu tiên giả, yếu đang dĩ trung hiếu hoà thuận nhân tín vi bản. Nhược đức hạnh bất tu, nhi đản vụ cầu phương thuật, giai bất đắc trường sinh 欲 求 仙 者 , 要 當 以 忠 孝 和 順 仁 信 為 本 . 若 德 行 不 修 , 而 但 務 求 方 術 , 皆 不 得 長 生 也.

[51] Lãm chư Đạo giới, vô bất vân dục cầu trường sinh giả, tất dục tích thiện lập công, từ tâm ư vật, thứ kỷ cập nhân, nhân đãi côn trùng, lạc nhân chi cát, mẫn nhân chi khổ, chu nhân chi cấp, cứu nhân chi cùng, thủ bất thương sinh, khẩu bất khuyến họa, kiến nhân chi đắc như kỷ chi đắc, kiến nhân chi thất như kỷ chi thất, bất tự quý, bất tự dự, bất tật đố thắng kỷ, bất nịnh siểm âm tặc, như thử nãi vi hữu đức, thụ phúc ư thiên, sở tác tất thành, cầu tiên khả ký dã. 覽 諸 道 戒 , 無 不 云 欲 求 長 生 者, 必 欲 積 善 立 功 , 慈 心 於 物 , 恕 己 及 人 , 仁 逮 昆 蟲 , 樂 人 之 吉 , 愍 人 之 苦 , 賙 人 之 急 , 救 人 之 窮 ,手 不 傷 生 , 口 不 勸 禍 , 見 人 之 得 如 己 之 得 , 見 人 之 失 如 己 之 失 , 不 自 貴 , 不 自 譽 , 不 嫉 妒 勝 己 , 不 佞 諂 陰 賊 ,如 此 乃 為 有 德 , 受 福 於 天 , 所 作 必 成 , 求 仙 可 冀 也 .

[52] Trần Lập Phu 陳立夫 dịch là ngụy khoa học 偽科學, xem Trung Quốc Cổ Đại Khoa Học Tư Tưởng Sử 中國古代科學思想史, Giang Tây Nhân Dân xbx, 1990. Đây là một bản dịch Anh Hán từ quyển Science & Civilisation in China, Vol. 2, của Joseph Needham (Lý Ước Sắt 李約瑟 tức Đan Diệu 丹耀 hay Thắng Nhũng Tử 勝冗子 hay Thập Túc Đạo Nhân 十宿道人).

[53] Đạo Giáo Thập Tam Kinh 道教十三經, Ninh Chí Tân 寧志新 chủ biên, Hà Bắc Nhân Dân xbx, 1994, quyển hạ, tr. 1099 (Bão Phác Tử Nội Thiên 抱朴子內篇, quyển 6 – Vi Chỉ 微旨).

THÁI THƯỢNG CẢM ỨNG THIÊN
太 上 感 應 篇

Lê Anh Minh dịch & chú giải

開 經 KHAI KINH

太 極 真 人 誦 曰: 太 上 垂 訓 感 應 之 篇. 日 誦 一 遍, 滅 罪 消 愆. 受 持 一 月, 福 祿 彌 堅. 行 之 一 年, 七 祖 昇 天. 久 行 不 怠, 名 列 諸 仙.

Thái Cực Chân Nhân tụng1 viết: Thái Thượng thùy2 huấn Cảm Ứng chi thiên. Nhật tụng3 nhất biến4, diệt tội tiêu khiên5. Thọ trì nhất nguyệt, phúc lộc di6 kiên. Hành chi nhất niên, thất tổ thăng thiên. Cửu hành bất đãi7, danh liệt chư tiên.

TỪ NGỮ

1.Tụng 誦: Thuật thuyết 述說, trần thuật 陳述. Td. Quần thần tụng công, thỉnh khắc ư thạch 群臣誦功請刻於石 [Sử Ký 史記, Tần Thủy Hoàng Bản Kỷ 秦始皇本紀] (Quần thần báo công, xin khắc vào đá). Nghĩa thông thường của tụng là học thuộc lòng (bối tụng 背誦), như trong câu dưới: tụng3.

2. Thùy 垂: Rủ lòng. Thùy huấn 垂訓: Rủ lòng thương mà dạy bảo.

3. Tụng 誦: Đọc thuộc lòng. Xem tụng1.

4. Biến 遍: Lần, lượt; đồng nghĩa với thứ 次 và hồi 回. Nhật tụng nhất biến 日誦一遍: Mỗi ngày đọc thuộc một lần.

5. Khiên 愆: Lỗi lầm, sai lầm; đồng nghĩa quá thất 過失, quá thác 過錯, thác ngộ 錯誤. Td. Kim Việt Vương Câu Tiễn khủng cụ nhi cải kỳ mưu, xả kỳ khiên lệnh 今越王勾踐恐懼而改其謀舍其愆令 [Quốc Ngữ 國語, Ngô Ngữ 吳語] (Nay Việt Vương Câu Tiễn sợ hãi mà đổi mưu kế và bỏ đi mệnh lệnh sai lầm). Tội khiên: Tội và lỗi. Kết cấu câu này là cài răng lược: Diệt tội tiêu khiên 滅罪消愆 = Diệt tiêu tội khiên.

6. Di 彌: (1) Lâu dài (trường cửu 長久). (2) Càng thêm (cánh gia 更加). Di ở câu này hiểu theo hai nghĩa: phúc lộc lâu dài bền vững hoặc phúc lộc càng thêm bền vững.

7. Đãi 怠: Lười biếng; dùng trong các từ đãi đọa 怠惰, lãn đãi 懶怠, giải đãi 懈怠 đều có nghĩa là biếng nhác trây lười.

DỊCH

Thái Cực Chân Nhân bảo rằng: Thái Thượng rủ lòng thương mà dạy [người đời] thiên Cảm Ứng này. Mỗi ngày [con người] đọc thuộc một lần thì dứt tuyệt mọi tội lỗi. Thọ trì [hay trì tụng] một tháng thì phúc lộc càng bền. Tụng một năm thì thất tổ siêu thăng [cõi trời]. Trì tụng không bê trễ thì tên [của người tụng] sẽ được ghi vào sổ bộ chư tiên.

GIẢI

Trong bài khai kinh, Đức Thái Cực Chân Nhân bảo rằng Thái Thượng Đạo Tổ vì thương xót thế nhân nên dạy bài Kinh Cảm Ứng. Sau một thời gian nhất định, người trì tụng sẽ xóa được tội lỗi cũ, sẽ tăng phúc lộc, và sẽ được đăng nhập vào sổ bộ chư tiên. Tức là được ghi tên vào tiên tịch, có triển vọng thành tiên.

經 誦 KINH TỤNG

1. 明 義 MINH NGHĨA

太 上 曰: 禍 福 無 門 惟 人 自 召. 善 惡 之 報 如 影 隨 形.

Thái Thượng1 viết: Họa phúc vô môn2 duy nhân tự triệu.Thiện ác chi báo như ảnh tùy hình.

TỪ NGỮ

1. Thái Thượng 太上: Thái Thượng Lão Quân 太上老君, Thái Thượng Đạo Tổ 太上道祖, Lão Tử 老子.

2. Môn 門: Tức môn lộ 門路 (cửa nẻo). Họa phúc vô môn 禍福無門: Họa phúc không có cửa nẻo nhất định, tức là không có sự ấn định sẵn.

3. Triệu 召: Mời đến, vời đến (chiêu lai 招來, chiêu trí 招致, chiêu dẫn 招引). Td. Cố ngôn hữu chiêu họa dã 故言有召禍也 [Tuân Tử 荀子, Khuyến Học 勸學] (Cho nên lời nói dẫn tai họa đến vậy).

DỊCH ĐIỀU 1

Thái Thượng nói: Họa và phúc không có cửa nẻo [nhất định] mà do con người triệu vời đến cho mình. Sự báo ứng của điều thiện và điều ác [bám sát lấy con người] như cái bóng đi theo thân hình.

GIẢI ĐIỀU 1

Điều 1 này là tông chỉ 宗旨 của trọn thiên Cảm Ứng, những điều còn lại là minh họa và giải thích thêm điều 1, nên nhan đề gọi là minh nghĩa 明義 (làm rõ ý nghĩa). Thiện ác báo ứng là điều tất nhiên: hành thiện thì thiện báo; hành ác thì ác báo. Không ai thoát khỏi luật nhân quả thiện ác báo ứng này. Sự báo ứng bám sát lấy chúng ta như chiếc bóng không rời thân mình. Hiểu như vậy thì ta mới sợ mà răn lòng, không gây ác (ác ý, ác khẩu, và ác thân).

2. 鑑 察 GIÁM SÁT

是 以, 天 地 有 司 過 之 神, 依 人 所 輕 重 以 奪人 算. 算 減 則 貧 耗, 多 逢 憂 患, 人 皆 惡 之, 刑 禍 隨 之, 吉 慶 避 之, 惡 星 災 之, 算 盡 則 死. 又 有 三 台 北 斗 神君, 在 人 頭 上, 錄 人 罪 惡, 奪 其 紀 算. 又 有 三 尸 神 在 人身 中, 每 到 庚 申 日, 輒 上 詣 天 曹, 言 人 罪 過. 月 晦 之 日, 灶 神 亦 然. 凡 人 有 過, 大 則 奪 紀, 小 則 奪 算. 其 過 大 小 有 數 百事. 欲 求 長 生 者, 先 須 避 之.

Thị dĩ,1 thiên địa hữu Tư 2 Quá chi Thần, y nhân sở khinh trọng dĩ đoạt3 nhân toán.4 Toán giảm tắc bần hao,5 đa phùng ưu hoạn,6 nhân giai ố 7 chi, hình họa8 tùy chi, cát khánh9 tị10 chi, ác tinh tai chi. Toán tận tắc tử. Hựu hữu Tam Thai, Bắc Đẩu Thần Quân11 tại nhân đầu thượng, lục nhân tội ác, đoạt kỳ kỷ toán.12 Hựu hữu Tam Thi Thần13 tại nhân thân trung, mỗi đáo Canh Thân nhật,14 triếp15 thướng nghệ16 Thiên Tào,17 ngôn nhân tội quá. Nguyệt hối18 chi nhật, Táo Thần19 diệc nhiên. Phàm nhân hữu quá, đại tắc đoạt kỷ, tiểu tắc đoạt toán. Kỳ quá đại tiểu hữu sổ bách sự. Dục cầu trường sinh giả, tiên tu20 tị chi.

TỪ NGỮ

1. Thị dĩ 是以: Vì thế cho nên; đồng nghĩa thị cố 是故, cố 故, nhân thử 因此, sở dĩ 所以.

2. Tư 司: (1) Nắm giữ, phụ trách về (chủ quản 主管, chưởng quản 掌管). Td. Mệnh Nam Chính Trọng dĩ tư thiên văn 命南正重以司天文 [Sử Ký 史記, Thái Sử Công Tự Tự 太史公自序] (Ra lệnh cho quan Nam Chính tên là Trọng trông coi về thiên văn). (2) Tư cũng có nghĩa là quan sát 觀察. Td. Tư nhật nguyệt chi trường đoản 司日月之長短 [Sơn Hải Kinh 山海經, Đại Hoang Tây Kinh 大荒西經] (Xem xét sự dài ngắn của ngày và đêm). Tư quá 司過: Xem xét tội lỗi; Tư mệnh 司命: Phụ trách về bổn mạng của thế nhân. Tư Mệnh Thần cũng có thể là Táo Quân. Từ đời Tấn về sau, Táo Quân được xem là thần Tư Mệnh xem xét việc thiện ác của thế gian (Đốc sát nhân gian thiện ác Tư Mệnh chi thần 督察人間善惡司命之神).

3. Đoạt 奪: Định đoạt 定奪, tước đoạt 削奪, tước trừ 削除.

4. Toán 算: Thời gian 100 ngày của đời người (Nhân hoạt bách nhật khiếu nhất toán 人活百日叫一算) [ Chú thích của Hứa Chỉ Tịnh 許止淨 Cảm Ứng Thiên Trực Giảng 感應篇直講]. Trong Cảm Ứng Thiên có từ kỷ 紀 và toán 算. Kỷ là 12 năm và toán là 100 ngày. Các tự điển và từ điển như Khang Hi, Từ Hải, Học Sinh Cổ Hán Ngữ Từ Điển, Cổ Hán Ngữ Thường Dụng Tự Tự Điển đều giải thích kỷ là đơn vị thời gian bằng 12 năm. Nhưng toán thì không còn xem là một đơn vị thời gian nữa. Tuy nhiên Cát Hồng Bão Phác Tử Nội Thiên đã định nghĩa kỷ là 300 ngày và toán là 3 ngày (Kỷ giả tam bách nhật dã 紀者三百日也. Toán giả tam nhật dã 算者三日也). Kỷ toán dùng chung với nhau hiểu là tuổi thọ. Trong tiếng Việt ngày nay, không hiểu ai bày ra từ thập kỷ 十紀 (thí dụ: thập kỷ 90) với ý là 10 năm. Nói như vậy là sai vì thập kỷ có nghĩa là 120 năm. Chỉ cần nói thập niên 十年 là đủ rồi (thí dụ: thập niên 90, the 1990s).

5. Bần hao 貧耗: Nghèo khổ, tốn hao, mất mát (bần khổ hao tán 貧苦耗散).

6. Ưu hoạn 憂患: Ưu là sầu khổ 愁苦, hoạn là họa hoạn 禍患. Ưu hoạn là sầu khổ hoạn nạn. Tục ngữ nói: Nhân vô viễn lự, tất hữu cận ưu 人無遠慮必有近憂 (Người không lo xa thì ắt sầu gần).

7.  惡: Ghét giận (yếm hận 厭恨, thảo yếm 討厭, bất hỉ hoan 不喜歡). Td. Thiên bất vị nhân chi ố hàn dã chuyết Đông 天不為人之惡寒也輟冬 [Tuân Tử 荀子, Thiên Luận 天論] (Trời chẳng vì lòng người giận ghét sự lạnh lẽo mà đình chỉ mùa Đông). Chữ này cũng đọc là ác, trái nghĩa với thiện 善.

8. Hình họa 刑禍: Hình phạt 刑罰 và họa hại 禍害.

9. Cát khánh 吉慶: Cát tường hỉ khánh 吉祥喜慶. Cát là tốt đẹp (thiện hảo 善好). Tục ngữ: Hung đa cát thiểu 凶多吉少 (Lành ít dữ nhiều). Khánh 慶, ngoài nghĩa thông thường là chúc mừng (khánh hạ 慶賀, chúc hạ 祝賀), còn có nghĩa là phúc 福. Td. Sơ tuy lao khổ, tốt hoạch kỳ khánh 初雖勞苦卒獲其慶 [Diêm Thiết Luận 鹽鐵論, Tru Tần 誅秦] (Lúc nhỏ tuy vất vả lao khổ nhưng đến lúc chết cũng được hạnh phúc). Vậy cát khánh bao gồm các nghĩa tốt đẹp (cát tường 吉祥) và vui vẻ hạnh phúc (hỉ khánh 喜慶).

10. Tị 避: Lánh mình (đoá khai 躲開), tránh né (tị miễn 避免). Td. Tị huynh, ly mẫu, xử ư Ô Lăng 避兄離母處於於陵 [Mạnh Tử 孟子, Đằng Văn Công hạ 滕文公下] (Lánh anh, xa mẹ, sống nơi Ô Lăng). Tị dùng trong từ ghép tị nạn 避難 (lánh nạn), tị húy 避諱 (kiêng húy).

11. Tam Thai 三台 và Bắc Đẩu 北斗 là hai sao thần, Tam Thai chủ quản tuổi thọ con người, Bắc Đẩu chủ quản tội lỗi con người [Hứa Chỉ Tịnh chú].

12. Kỷ toán 紀算: Tuổi thọ con người. Xem chữ toán4 算 giải ở trên.

13. Tam Thi Thần三尸神: Thần Tam Thi là 3 vị thần cư ngụ nơi thân thể con người: Thượng Thi Thanh Cô trừng phạt con mắt người ta, Trung Thi Bạch Cô trừng phạt ngũ tạng (tim, gan, lá lách, phổi, thận), và Hạ Thi Huyết Cô trừng phạt bao tử (上尸青姑伐人眼中尸白姑伐人五臟下尸伐人胃命).

14. Canh Thân nhật 庚申日: Ngày Canh Thân, là ngày chư thần phán xét việc thiện ác của thế nhân.

15. Triếp 輒: Liền tức thì, ngay lập tức (lập tức 立即, tựu 就).

16. Nghệ 詣: Đi đến (vãng đáo 往到), chữ này dùng khi ta đi đến một bậc tôn kính. Td. Nghệ tiền thỉnh giáo 詣前請教 (Đến trước [ngài] và xin lời dạy bảo). Do thị tiên chủ toại nghệ Lượng, phàm tam vãng, nãi kiến 由是先主遂詣亮凡三往乃見 [Tam Quốc Chí 三國誌, Gia Cát Lượng Truyện 諸葛亮傳] (Bởi vì tiên chủ [tức Lưu Bị] bằng lòng đến Chư Cát Lượng, ba lần đến mới gặp).

17. Thiên Tào 天曹: Hứa Chỉ Tịnh giải tào là nha môn 衙門, Thiên Tào là chốn nha môn trên trời.

18. Hối 晦: Nguyên nghĩa là tối tăm hôn ám (hôn ám 昏暗), nhưng còn có nghĩa là ngày cuối tháng âm lịch 陰歷每月的最後一天 (âm lịch mỗi nguyệt đ1ch tối hậu nhất thiên = nguyệt hối chi nhật 月晦之日).

19. Táo Thần 灶神: Tức Ông Táo, Táo Quân 灶君.

20. Tu 須: Phải. Trước hết phải tránh xa tội lỗi, giống như sợ chết chìm chết cháy mà xa nước lửa. Còn muốn sống lâu thì phải lánh xa tội lỗi.

DỊCH ĐIỀU 2

Cho nên trời đất có [đặt ra] các vị thần trông coi tội lỗi của người đời. Căn cứ vào tội nặng nhẹ mà giảm bớt tuổi thọ của họ. Giảm thọ ắt phải nghèo khổ, hao tổn, thường gặp hoạn nạn, sầu khổ. Rồi mọi người đều ghét bỏ kẻ ác. Hình phạt và tai họa đeo bám theo kẻ ác. Những sự hạnh phúc vui vẻ đều không xảy đến cho họ. Ác tinh [sao chủ về điều ác] gieo tai họa cho họ. Tuổi thọ hết ắt phải chết. Lại có Thần Tam Thai [coi về tuổi thọ] và Thần Bắc Đẩu [xem xét tội lỗi người đời] ở trên đầu con người và ghi chép tội ác của người đời để trừ bớt tuổi thọ của họ. Lại có Thần Tam Thi trong thân thể con người, mỗi khi đến ngày Canh Thân tức thì lên thẳng đến Thiên Tào báo cáo tội lỗi người đời. Đến ngày cuối tháng âm lịch, Táo Quân cũng có phận sự giống như vậy. Người đời tội lớn thì bị giảm thọ 12 năm, lỗi nhỏ thì bị giảm thọ 100 ngày. Tội lỗi lớn nhỏ của con người tính ra có đến hàng mấy trăm. Cho nên muốn sống lâu thì trước tiên phải tránh xa tội lỗi.

GIẢI ĐIỀU 2

Người đời thường nghĩ tội lỗi khuất lấp của mình chẳng ai hay biết. Thực sự, thần minh biết vì Trời đã ấn định những vị thần chuyên trách theo dõi việc thiện ác của con người mà định đoạt phúc lộc hoặc tuổi thọ của họ. Thí dụ như Thần Tam Thai và Bắc Đẩu ở trên trời, Thần Tam Thi ngay trong thân thể mỗi người, Táo Quân nơi bếp mỗi nhà.

Những hậu quả mà người gây ác phải gánh chịu thì rất nhiều, như:

● Giảm thọ. Tội nặng bị giảm một kỷ (12 năm). Tội nhẹ bị giảm một toán (100 ngày). Mà tội lỗi lớn nhỏ của con người tính ra đến hàng trăm, do đó tuổi thọ bị bớt dần rồi phải chết non.

● Người đời ghê sợ mà xa lánh kẻ ác.

● Hình phạt và tai họa xảy đến cho kẻ ác (do luật pháp thế gian phán xử, và do ác tinh gây ra).

● Về tâm lý, kẻ ác bị dày vò sầu khổ, không bao giờ vui vẻ hạnh phúc.

+ Cách làm việc của chư thần:

● Thần Tam Thai và Bắc Đẩu ghi chép tội lỗi người đời.

● Thần Tam Thi (trong thân thể con người) đến ngày Canh Thân, đợi người ngủ say thì xuất ra và bay thẳng đến Thiên Tào mà trình báo.

● Ngày cuối mỗi tháng âm lịch, Táo Quân cũng bay bên trời trình báo tội lỗi con người.

Với hệ thống quản lý chặt chẽ vô hình như thế con người phải thận trọng để không phạm tội lỗi. Đó là tu thân luyện kỷ, điều kiện tiên quyết của trường sinh bất tử.

3. 積 善 TÍCH THIỆN

是 道 則 進, 非 道 則 退. 不 履 邪 徑. 不 欺 暗 室. 積 德 累 功. 慈 心 於 物. 忠 孝 友 悌. 正 己化 人. 矜 孤 恤 寡.敬 老 懷 幼. 昆 蟲 草 木, 猶 不 可 傷. 宜 憫 人 之 凶. 樂 人 之 善. 濟 人 之 急. 救 人 之 危. 見 人 之 得 如 己 之得. 見 人 之 失 如 己 之 失. 不 彰 人 短, 不 衒 己 長. 遏 惡 揚 善. 推 多 取 少. 受 辱 不 怨. 受 寵 如 驚. 施 恩 不 求 報. 與 人 不 追 悔.

Thị đạo tắc tiến, phi đạo tắc thoái.1 Bất lý tà kính.2 Bất khi ám thất.3 Tích đức lũy công.4 Từ tâm ư vật.5 Trung, hiếu, hữu, đễ.6 Chính kỷ hóa nhân. Căng cô tuất quả.7 Kính lão hoài ấu.8 Côn trùng thảo mộc, do bất khả thương. Nghi 9 mẫn nhân chi hung. Lạc nhân chi thiện. Tế nhân chi cấp. Cứu nhân chi nguy. Kiến nhân chi đắc như kỷ chi đắc. Kiến nhân chi thất như kỷ chi thất. Bất chương nhân đoản,10 bất huyện kỷ trường.11 Át ác dương thiện.12 Thôi13 đa thủ thiểu. Thụ nhục bất oán. Thụ sủng14 nhược kinh. Thi ân15 bất cầu báo. Dữ16 nhân bất truy hối.

TỪ NGỮ

1. Thị 是: Đúng. Phi 非: Sai. Thị đạo 是道: Đường đúng. Phi đạo 非道: Đường sai. Cầu thị 求是: Cầu mong điều đúng đắn, chính xác.

2.  履: Bước qua, đạp lên (tiễn 踐, đạo tại thượng diện 蹈在上面, tẩu quá 走過.Td. Như lý bạc băng 如履薄冰 [Kinh Thi 經詩, Tiểu Nhã 小雅] (Như đạp trên băng mỏng). Từ lý lịch 履歷là lịch trình một người đã trải qua, bước qua trong cuộc đời.

Cần phân biệt các chữ lý 履, tiễn 踐, đạp 踏, đạo 蹈, thái 踩 (跴), nhiếp (niếp) 躡:

+ Hai chữ lý 履, tiễn 踐 đều có nghĩa là đi trên một bề mặt gì (hành tẩu tại… thượng 行走在…上).

Đạp 踏 là dùng chân đạp lên, đồng nghĩa với chữ thái 踩 (跴).

Đạo 蹈 cũng đồng nghĩa với thái đạp 踩 (跴) 踏, nhưng ngụ ý mạo hiểm, như đạo hỏa 蹈火 (đạp lên lửa).

Nhiếp (niếp) 躡 cũng là đạp, nhưng thường dùng với ý bước lên địa vị cao (đăng thướng cao vị 登上高位). Niếp còn nghĩa khác là truy đuổi. [Giải thích trên là của Vương Lực 王力, Cổ Hán Ngữ Thường Dụng Tự Tự Điển 古漢語常用字字典trang 209].

Kính 徑: Đường nhỏ (tiểu lộ 小路). Td. Hành bất do kính 行不由徑 [Luận Ngữ 論語, Ung Dã 雍也] (Không đi từ đường nhỏ). Tà kính 邪徑: Đường nhỏ và sái quấy (nghĩa bóng). Tiệp kính捷徑: Đường tắt (shortcut).

3. Ám thất 暗室: Nhà tối. Tại sao chớ khinh nhà tối? Đừng nghĩ vì nhà tối không ai thấy mà muốn làm gì thì làm. Ta biết thần minh giám sát ta chặt chẽ. Tục ngữ nói: Tọa mật thất như thông cù 坐密室如通衢 (Ngồi nhà kín như ngồi ngã tư đường). Trăm mắt nhìn vào nên phải giữ gìn đức hạnh.

4. Tích lũy 積累: Cất trữ từ ít đến nhiều gọi là tích, từ thấp chồng lên cao là lũy (從少到多叫做積,從低到高叫做累). Tích đức lũy công= Tích lũy công đức.

5. Ư 於 là một hư từ, trong câu này ư nghĩa là đối với, nơiTừ tâm 慈心: Lòng yêu thương (từ ái 慈愛). Từ tâm ư vật: Lòng yêu thương đối với loài vật.

6. Hữu 友: Nghĩa thông thường là bạn bè (bằng hữu 朋友), nhưng trong cổ văn còn có nghĩa là tình anh đối với emĐễ là tình em đối với anh (Huynh khứ ái đệ khiếu tố hữu, đệ khứ ái huynh khiếu tố đễ 兄去愛弟叫做友,弟去愛兄叫做悌) [Hứa Chỉ Tịnh chú thích].

+ Trung 忠: (1) Hết sức tận tâm (tận tâm kiệt lực 盡心竭力, thành tâm tận lực 誠心盡力). Td. Vi nhân mưu nhi bất trung hồ? 為人謀而不忠乎 [Luận Ngữ 論語, Học Nhi 學而] (Mưu tính công việc cho người [thì tự xét] có thành tâm tận lực hay không?) (2) Tận tâm hết sức với vua (trung ư quân chủ 忠於君主). Trong văn cảnh này là trung quân 忠君. Nhưng để phù hợp thời nay, tôi dịch theo nghĩa gốc thành tâm tận lực với người.

+ Hiếu 孝: Hết lòng thương yêu, kính mến, phụng dưỡng, và phục tùng cha mẹ (tận tâm kính ái phụng dưỡng phục tùng phụ mẫu 盡心敬愛奉養服從父母). Lời xưa nói: Nhân sinh bách hạnh hiếu vi tiên 人生百行孝為先 (Hiếu đứng đầu 100 đức hạnh của con người).

7. Căng 矜: Thương xót (ai lân 哀憐, lân mẫn 憐憫, lân tích 憐惜). Tuất 恤: Cứu giúp, giúp đỡ chu toàn, thông cảm thương xót (chu tế 周濟, cưú tế 救濟, thể tuất 體恤), cũng viết là 卹đồng nghĩa với căng 矜 và lân mẫn 憐憫. Td. Căng tuất cô luy 矜恤孤羸 [Hậu Hán Thư 後漢書, Chu Trạch Truyện 周澤傳] (Thương xót giúp đỡ trẻ mồ côi và người già yếu). (Luy 羸 nghĩa là ốm yếu [sấu nhược 瘦弱], ở đây hiểu là già yếu). Căng cô tuất quả= Căng tuất cô quả: Thương xót giúp đỡ trẻ mồ côi và người goá bụa. Sách khuyến thiện cho rằng có bốn hạng người cần giứp đỡ: Quan, quả, cô, độc. Quan 鰥: kẻ góa vợ hoặc không vợ; quả 寡: kẻ góa chồng;  孤: trẻ mồ côi; độc 獨: người không con.

8. Hoài 懷: (1) Ôm lấy. Td. Ư thị hoài thạch toại tự trầm Mịch La dĩ tử 於是懷石遂自沉汨羅以死 [Sử Ký 史記, Khuất Nguyên Truyện 屈原傳] (Do đó bèn ôm đá tự trầm ở sông Mịch La mà chết) (2) An ủi, vỗ về (an phủ 安撫). Td. Hoài địch phụ viễn 懷敵附遠 [Giả Nghị 賈誼, Luận Tích Trữ Sớ 論積貯疏] (An ủi vỗ về quân địch để chúng tuy ở xa mà cũng quy thuận). [Phụ viễn 附遠: Khiến cho kẻ ở xa quy phụ 使遠方歸附). Hoài ấu 懷幼: An ủi vỗ về trẻ nhỏ.

9. Nghi 宜: Cần phải (ưng cai 應該, ưng đang 應當). Td. Bất nghi như thử 不宜如此 (Không nên như vậy); Bất nghi tháo chi quá cấp 不宜操之過急 (Không nên quá vội làm việc ấy); Sự phùng đắc ý nghi hưu tức, phú quý trường trung dị bạch đầu 事逢得意宜休息富貴場中易白頭 (Sự đời đã toại ý thỏa lòng thì nên lui về nghỉ ngơi, vì trong cảnh phú quý ta dễ bị bạc đầu lo nghĩ).

10. Chương 彰: Làm lộ rõ ra (minh hiển 明顯). Thành ngữ: Dục cái di chương 欲蓋彌彰 (Dục vọng che đậy lại càng lộ ra). Bất chương nhân đoản 不彰人短: Không rêu rao chỗ kém cỏi của người khác.

11. Huyện 衒: Khoe khoang (tự khoa 自誇). Bất huyện kỷ trường 不衒己長: Không khoe khoang mình hay mình giỏi. Nhiều từ điển Hán Việt phiên âm là huyễn, Từ Hải phiên là huyễn(穴絹切,音眩) nhưng Khang Hi phiên là huyện (黃練切). Tôi theo Hứa Chỉ Tịnh, chữ 衒 đọc là huyện.

12. Át 遏: Cản trở, đình chỉ (trở chỉ 阻止). Td. Nộ bất khả át 怒不可遏 (Giận không ngăn nổi). Nhiều bản Cảm Ứng Thiên chép câu này là Ẩn ác dương thiện 隱惡揚善 (Che dấu điều ác, biểu dương điều thiện của người). Tại sao lại có thái độ bao che điều ác như thế? Tôi theo bản Cảm Ứng Thiên Trực Giảng của Hứa Chỉ Tịnh và Trung Hoa Đạo Học Thông Điển, chấp nhận câu: Át ác dương thiện 遏惡揚善 (Cản trở điều ác của người, biểu dương điều thiện của người). Điều ác phải bị ngăn chận để nó không hoành hành, kẻ ác phải chùn tay vì xấu hổ hoặc vì pháp luật trừng trị. Điều thiện phải được biểu dương và người thiện trở thành tấm gương cho kẻ khác bắt chước, nhờ thế điều thiện được nhân lên.

13. Thôi 推: Nhường phần (thôi nhượng 推讓). Thôi đa thủ thiểu 推多取少: Khi chia chác đồ vật với ai thì nhường cho người phần nhiều, giữ cho mình phần ít.

14. Sủng 寵: Rất thương yêu (sủng ái 寵愛), yêu một cách thiên vị (thiên ái 偏愛), yêu quá mức (quá phận chi ái 過分之愛). Td. Thiếu Khương hữu sủng ư Tấn Hầu 少姜有寵於晉候 [Tả Truyện 左傳, Chiêu Văn Công Nhị Niên 昭文公二年] (Thiếu Khương được Tấn Hầu sủng ái) [Thiếu Khương là phi tử của Tấn Hầu]. Nhược 若: Giống như là (nhược như 若如). Tại sao thụ sủng 受寵 (được sủng ái) phải coi như điều đáng kinh sợ? Điều gì thái quá thì sẽ trở ngược (vật cực tắc phản 物極則反). Đã yêu lắm thì có lúc sẽ cắn nhau đau (Yêu lắm cắn đau; vồ lắm vập nhiều). Sủng là lòng yêu thiên lệch, một tình yêu quá phận, che mờ mọi khiếm khuyết của người được yêu. Cho nên người được yêu phải tự xét phận mình mà cố gắng bồi dưỡng tài đức cho xứng đáng. Nếu chỉ trông cậy vào sự sủng ái mà tự tung tự tác thì có ngày mang họa vào thân.

15. Thi 施: (1) Thi hành 施行, thực hành 實行. (2) Làm ơn (cấp dữ ân huệ 給予恩惠). Cũng đọc là thí. Thi ân 施恩: Làm ơn. Thi ân bất cầu báo: Làm ơn, cứu tế ai mà không mong họ đền đáp. Đó là thái độ vô tư, vô dục, từ bi vô lượng của người quân tử. Thực tế, cầu người báo đáp cũng là hoài công, vì hai lý do: (a) Thói đời hay bạc bẽo, nên người ta thường bảo: cứu vật vật trả ân, cứu nhân nhân trả oán. (b) Ân càng thâm, họa càng sâu. Người thụ ân có mặc cảm tự ti, ngoài miệng nói tri ân mà trong lòng uất hận. Đòi hỏi họ đền ân đáp nghĩa là tự chuốc họa vào thân. Nên không giúp ai thì thôi, mà giúp rồi thì phải quên việc ấy đi. Đó là thượng sách vậy.

16. Dữ 與: Cấp cho, tặng cho; đồng nghĩa với cấp 給. Td. Tặng dữ 贈與, tống dữ 送與, cấp dữ 給與, thụ dữ 授與 (tặng cho, đưa cho, trao cho ). Truy 追: Truy cứu, xét lại. Td. Dĩ vãng sự vật truy tư 已往事勿追思 (Chuyện đã qua đừng truy lại mà lo nghĩ). Truy hối 追悔: Xét lại mà hối tiếc.

DỊCH ĐIỀU 3

Đường đúng thì đi tới, đường sai thì tránh lui. Không đi đường tắt lối nhỏ sái quấy. Không được khinh thường nhà tối. Phải tích lũy công đức. Phải có lòng từ bi lân mẫn đối với muôn loài. Phải hết lòng với người, có hiếu với cha mẹ, anh em thương nhau. Tự sửa mình rồi hãy dạy người. Thương xót cứu giúp cô nhi và quả phụ. Kính trọng người già và an ủi vỗ về trẻ nhỏ. Không tổn hại côn trùng và cây cỏ. Phải thương hại kẻ ác [vì họ u mê]. Phải vui mừng chia sẻ với người hành thiện. Cứu giúp người bị nguy cấp. Thấy người được [thì vui] như mình được. Thấy người mất mát [thì buồn] như mình mất mát. Không phô bày sự kém cỏi của người. Không khoe khoang cái hay của mình. Ngăn chận người sắp làm điều ác. Biểu dương người làm điều thiện. Khi phải chia chác đồ vật, nhường người phần nhiều và giữ cho mình phần ít. Gặp nhục không oán. Được sủng ái phải sợ. Giúp người chớ mong báo đáp. Cho ai vật gì rồi thì đừng nghĩ lại mà hối tiếc.

GIẢI ĐIỀU 3

Điều 3 này khuyên ta phải tự xét và tu sửa bản thân, bao gồm 3 mặt tư tưởng, tình cảm, và hành vi:

● Tư tưởng:

+ Không khinh nhà tối mà làm bậy, nên nhớ rằng thần minh luôn giám sát chặt chẽ chúng ta.

+ Sửa mình rồi mới dạy người.

+ Đặt mình vào hoàn cảnh của người khác để thông cảm họ. Chia sẻ với họ lúc họ thành bại, được mất. Thói đời, người hành thiện thường bị dèm pha hoài nghi, người thành đạt thường bị ganh tị, người thất bại thì bị kẻ khác hỉ hả vui mừng. Đó là thói xấu cần sửa đổi.

● Tình cảm:

+ Thương xót cứu tế cô nhi quả phụ.

+ Từ tâm đối với muôn loài.

+ Kính trọng người già, an ủi vỗ về trẻ nhỏ.

+ Tận tâm với người.

+ Hiếu với cha mẹ và thương yêu anh em.

+ Bị lăng nhục không oán.

+ Được sủng ái phải nghĩ xa mà sợ.

● Hành vi:

+ Đi đường đúng, tránh đường sai. Ý nói hành thiện, tránh ác.

+ Tích lũy công đức.

+ Giúp đỡ người gặp nguy khốn.

+ Không phô bày sự kém cỏi của người mà khoe khoang cái hay của mình.

+ Ngăn chận người sắp gây ác, biểu dương người hành thiện.

4. 善 報 THIỆN BÁO

所 為 善 人, 人 皆 敬 之, 天 道 佑 之, 福 綠 隨 之, 眾 邪 遠 之, 神 靈 衛 之, 所 作 必 成, 神 仙 可 冀. 欲 求 天 仙 者, 當 立 一 千 三 百 善. 欲 求 地 仙 者, 當 立 三 百 善.

Sở vi thiện nhân, nhân giai kính chi, thiên đạo hựu1 chi, phúc lộc tùy chi, chúng tà viễn chi, thần linh vệ chi, sở tác tất thành, thần tiên khả ký.2 Dục cầu thiên tiên giả, đương lập nhất thiên tam bách thiện. Dục cầu địa tiên giả, đương lập tam bách thiện.

TỪ NGỮ

1. Hựu 佑: Giúp đỡ (幫助 bang trợ). Còn chữ hựu 祐 (viết với bộ thị 礻) là bảo hựu 保祐, tức là sự giúp đỡ của thần linh (神 的幫助), ta hay nói là (chư thần) phù hộ. Theo ý trong kinh văn, chữ hựu ở đây viết là 祐 thì hợp lý hơn.

2. Ký 冀: Hy vọng 希望, mong ước. Td. Ký phục đắc thố 冀復得兔 [Hàn Phi Tử 韓非子, Ngũ Đố 五蠹] (Mong lại có được thỏ nữa) [chữ phục 復 trong câu này nghĩa là tái 再: một lần nữa].Thần tiên khả ký: Có thể hy vọng trở thành thần tiên.

DỊCH ĐIỀU 4

Người [được xem là] thiện lương thì ai ai cũng kính trọng. Trời giúp đỡ họ. Phúc lộc đi theo bên họ. Mọi tà quái tránh xa họ, [vì họ được] thần linh hộ vệ. Mọi việc họ làm đều thành công. Họ có thể hy vọng trở thành thần tiên: muốn trở thành thiên tiên thì phải làm 1300 điều thiện, muốn trở thành địa tiên thì phải làm 300 điều thiện.

GIẢI ĐIỀU 4

Điều 4 này nói về kết quả của việc tích chứa điều thiện. Người thiện về mặt đời thì được mọi người kính trọng, về mặt thiêng liêng vô hình thì được trời phù hộ, do đó hưởng phúc lộc. Thần linh hộ vệ người thiện nên tà quái không dám đếùn gần. Kết quả là họ làm gì cũng thành công. Điều quan trọng nữa: người thiện là đã tròn nhân đạo, vì thế có thể hy vọng trở thành thần tiên. Điều kiện thành thiên tiên là phải làm 1300 điều thiện, và điều kiện thành địa tiên là phải làm 300 điều thiện.

5. 諸 惡 (上) CHƯ ÁC (THƯỢNG)

苟 或 非 義 而 動, 背 理 而 形, 以 惡 為 能, 忍 作 殘 害, 陰 賊 良 善, 暗 侮 君 親, 慢 其 先 生, 叛 其 所 事, 誑 諸 無 識, 謗 諸 同 學, 虛 誣 詐 偽 攻 訐 宗 親, 剛 強 不 仁, 狠 戾 自 用, 是 非 不 當, 向 背 乖 宜. 虐 下 取 功, 諂 上 希 旨, 受 恩 不 感, 念 怨 不 休, 輕 蔑 天 民, 擾 亂 國 政, 賞及 非 義, 刑 及 無 辜, 殺 人 取 財, 傾 人 取 位, 誅 降 戮 服, 貶 正 排 賢, 陵 孤 逼 寡, 棄 法 取 賂, 以 直 為 曲, 以 曲 為 直, 入 輕 為 重, 見 殺 加 怒, 知 過 不 改, 知 善 不 為, 自 罪 引 他, 壅 塞 方 術, 訕 謗 聖 賢, 侵 陵 道 德, 射 飛 逐 走, 發 蟄 驚 棲, 填 穴 覆 巢, 傷 胎 破 卵, 願 人 有 失, 毀 人 成 功, 危 人 自 安, 減 人 自 益, 以 惡 易 好, 以 私 廢 公, 竊 人 之 能, 蔽 人 之 善, 形 人 之 醜, 訐 人 之 私, 耗 人 貨 財, 離 人 骨 肉, 侵 人 所 愛, 助 人 為 非, 逞 志 作 威, 辱 人 求 勝, 敗 人 苗 稼, 破 人 婚 姻, 苟 富 而 驕, 苟 免 無 恥, 認 恩 推 過, 嫁 禍 賣 惡, 沽 買 虛 譽, 包 貯 險 心, 挫 人 所 長, 護 己 所 短, 乘 威 迫 脅, 縱 暴 殺 傷, 無 故 剪 裁, 非 禮 烹 宰, 散 棄 五 穀, 勞 擾 眾 生, 破 人 之 家 取 其 財 寶, 決 水 放 火 以 害 民 居, 紊 亂 規 模 以 敗 人 功, 損 人 器 物 以 窮 人 用, 見 他 榮 貴 願 他 流 貶, 見 他 富 有 願 他 破 散, 見 他 色 美 起 心 私 之, 負 他 財 貨 願 他 身 死, 干 求 不 遂 便 生 咒 恨, 見 他 失 便 便 說 他 過, 見 他 體 相 不 具 而 笑 之, 見 他 才 能 可 稱 而 抑 之,…

Cẩu hoặc phi nghĩa nhi động, bối lý nhi hành,1 dĩ ác vi năng, nhẫn tác tàn hại, âm tặc2 lương thiện, ám vũ3 quân thân, mạn4 kỳ tiên sinh, bạn kỳ sở sự, cuống5 chư vô thức, báng chư đồng học, hư vu trá ngụy6 công yết7 tông thân, cương cường bất nhân, ngận lệ8 tự dụng, thị phi bất đang,9 hướng bối quai nghi,10 ngược11 hạ thủ công, siểm12 thượng hy chỉ, thụ ân bất cảm, niệm oán bất hưu, khinh miệt thiên dân, nhiễu loạn quốc chính, thưởng cập phi nghĩa, hình cập vô cô,13 sát nhân thủ tài, khuynh nhân thủ vị, tru hàng lục phục,14 biếm chính bài hiền, lăng cô bức quả, khí pháp thụ lộ,15 dĩ trực vi khúc, dĩ khúc vi trực, nhập khinh vi trọng, kiến sát gia nộ, tri quá bất cải, tri thiện bất vi, tự tội dẫn tha, ung tắc16 phương thuật, sán báng17 thánh hiền, xâm lăng đạo đức, xạ phi trục tẩu,18 phát trập kinh thê,19 điền huyệt phúc sào,20 thương thai phá noãn, nguyện nhân hữu thất, hủy nhân thành công, nguy nhân tự an, giảm nhân tự ích, dĩ ác dịch hảo, dĩ tư phế công, thiết21 nhân chi năng, tế22 nhân chi thiện, hình nhân chi xú,23 yết24 nhân chi tư, hao nhân hoá tài, ly nhân cốt nhục, xâm nhân sở ái, trợ nhân vi phi, sính25 chí tác uy, nhục nhân cầu thắng, bại nhân miêu giá,26 phá nhân hôn nhân, cẩu phú27 nhi kiêu, cẩu miễn28 vô sỉ, nhận ân thôi quá, giá29 họa mại ác, cô mãi30 hư dự, bao trữ31 hiểm tâm, tỏa32 nhân sở trường, hộ kỷ sở đoản, thừa uy bức hiếp, túng bạo sát thương, vô cố33 tiễn tài, phi lễ phanh tể,34 tán35 khí ngũ cốc, lao nhiễu chúng sinh, phá nhân chi gia thủ kỳ tài bảo, quyết36 thủy phóng hỏa dĩ hại dân cư, văn loạn qui mô dĩ bại nhân công, tổn nhân khí vật dĩ cùng nhân dụng, kiến tha vinh quý nguyện tha lưu biếm,38 kiến tha phú hữu nguyện tha phá tán, kiến tha sắc mỹ khởi tâm tư chi,39 phụ tha hóa tài nguyện tha thân tử, can cầu bất toại tiện sinh chú40 hận, kiến tha thất tiện tiện thuyết tha quá, kiến tha thể tướng bất cụ nhi tiếu chi, kiến tha tài năng khả xưng41 nhi ức chi,…

TỪ NGỮ

1. Cẩu hoặc 苟或: Cẩu là liên từ chỉ điều kiện hay giả sử, dịch là «nếu như» (đồng nghĩa giả như 假如, như quả 如果, cẩu nhược 苟若, giả thiết 假設). Hoặc là đại từ bất định, dịch là “một người nào đó“, tương đương bạch thoại là hữu đích nhân 有的人 (someone). Td. Hoặc viết 或曰: có người nói rằng. Hoặc vấn 或問: có người hỏi rằng. Cẩu hoặc: nếu như có kẻ nào mà…

Nghĩa 義: Đạo lý, hành vi, hoặc đạo đức hợp nghi (合宜的道德行為或道理). Tức là sự việc đáng phải làm. Td. Đa hành bất nghĩa tất tự tễ 多行不義必自斃 [Tả Truyện 左傳, Ẩn Công Nguyên Niên 隱公元年] (Làm nhiều chuyện bất nghĩa ắt có ngày phải chết).

Bối 背: Bội phản, ngược lại (違反 vi phản, 違背 vi bối, 背反 bối phản). Td. Bối ước 背約: bội phản với lời hẹn ước, bối minh 背盟: ngược với lời nguyện thềBối lý 背理: Trái đạo lý. Cấu trúc cụm từ này là cài răng lược: hành động những điều phi nghĩa và trái đạo lý.

Theo cấu trúc câu điều kiện, ta thấy điều kiện ở đây chính là chư ác được liệt kê tách ra làm hai là chư ác thượng (điều 5) và chư ác hạ (điều 6). Kết quả, đúng ra là hậu quả, được kể trong Ác báo ở điều 7 kế tiếp. Đây là một câu điều kiện phức tạp và quá dài nên bị dàn trải thành 3 điều 5, 6, và 7. Ta khái quát cấu trúc này như sau: Nếu có ai làm những việc ác (tức là hành động những điều phi nghĩa và trái đạo lý được liệt kê ở điều 5 và 6), thì sẽ gặp ác báo (được liệt kê ở điều 7).

2. Tặc 賊: Hại 害, sát hại 殺害, ăn cướp (強盜 cường đạo). Âm 陰: Trong bóng tối (暗中 ám trung). Td. Yên Vương hôn loạn, kỳ thái tử Đan nãi âm lịnh Kinh Kha vi tặc 燕王昏亂其太子丹乃陰令荊軻為賊 [Sử Ký 史記, Tần Thuỷ Hoàng Bản Kỷ 秦始皇本紀] (Vua nước Yên hôn loạn, nên thái tử Đan âm thầm sai Kinh Kha làm kẻ thích khách). Âm tặc: Âm thầm làm hại hay sát hại ai.

3. Vũ 侮: Khinh khi (輕慢 khinh mạn, 怠慢 đãi mạn). Vũ nhục 侮辱: Khinh khi lừa dối (欺負 khi phụ). Td. Hình đang tội tắc uy, bất đang tội tắc vũ 刑當罪則威不當罪則侮 [Tuân Tử 荀子,  Quân Tử 君子] (Hình phạt đúng tội thì có uy nghiêm, không đúng tội thì bị khinh nhờn). Ám vũ quân thân: Thầm khinh vua và cha mẹ (tức là bất trung bất hiếu).

4. Mạn 慢: Khinh người (驕慢 kiêu mạn, 傲慢 ngạo mạn, 不敬 bất kính). Tiên sinh 先生: Thầy dạy. Câu Ám vũ quân thân mạn kỳ tiên sinh chỉ rõ tội lỗi đối với quân, sư, phụ.

5. Cuống 誑: Lừa bịp, mê hoặc, dối trá (欺騙 khi biển, 瞞哄 man hống, 哄騙 hống biển, 迷惑 mê hoặc). Td. Thiết trá cuống Yên quân 設詐誑燕軍 [Sử Ký 史記, Lạc Nghị Liệt Truyện 樂毅列傳] (Đặt ra những điều hư ngụy để lừa quân sĩ nước Yên). Vô thức 無識: Người không học thức.

6. Vu 誣: Nói điều không có thực. Td. Vu cáo 誣告, vu khống 誣控. Trá 詐: Lừa dối. Cổ Hán ngữ dùng chữ trá 詐 để diễn ý nghĩa lừa gạt, chứ không dùng chữ biển 騙 như Hán ngữ hiện đại (Chú thích của Vương Lực, Sđd. trang 366). Td. Đại vương dĩ trá phá chi 大王以詐破之 [Chiến Quốc Sách 戰國策, Tần Sách Nhất 秦策一] (Đại vương dùng lời không có thực để phá tan quân giặc). Ngụy 偽: Quỷ trá 詭詐, không thành thực 不誠實. Td. Nghiêm hình phạt, sức chính giáo, gian ngụy vô sở dung 嚴刑罰飭政教奸偽無所容 [Diêm Thiết Luận 鹽鐵論, Phi Ưởng 非鞅] (Nghiêm khắc hình phạt đồng thời chỉnh đốn chính trị và tôn giáo thì bọn gian ngụy không còn chốn để dung thân).

7. Công yết 攻訐: Công kích 攻擊. Chữ 訐 cũng đọc là kiếtHư vu trá ngụy công yết tông thân: Giả dối, lừa bịp, xoi mói, công kích tộc họ thân thích. Câu này nhấn mạnh tính chất quan trọng của huyết thống, buộc con người phải có cách cư xử chân thành.

8. Ngận 狠: Hung ác, tàn nhẫn. Lệ 戾: Tội lỗi (罪過 tội quá, 罪戾 tội lệ). Chữ lệ ghép chữ khuyển 犬 (chó) với chữ hộ 戶 (cửa), tức là chó dữ giữ cửa, ngụ ý hung hăng dữ tợn. Ngận lệ: Tính tình oái oăm độc ác (乖戾 quai lệ). Ngận lệ tự dụng: Tự bản thân sử dụng những thủ đoạn tàn nhẫn, độc ác.

9. Đang 當: Phán xét. Td. Đang Cao tội tử 當高罪死 [Sử ký史記, Mông Điềm Liệt Truyện 蒙恬列傳] (Phán xét tội Triệu Cao phải chết). Thị phi bất đang: Không xem xét đếm xỉa đến điều phải, điều quấy.

10. Quai 乖: Trở ngược (違背 vi bối), không hài hoà 不和諧, không thuận 不順. Td. Nội ngoại quai giả, khả vong dã 內外乖者可亡也 [Hàn Phi Tử 韓非子, Vong Trưng 亡徵] (Những trật tự trong và ngoài cung đình mà đảo ngược, thì đó là điềm mất nước vậy). Chữ quai trong Cổ Hán ngữ không có nghĩa là ngoan ngoãn như trong Hán ngữ hiện đại. Td. Ngày nay nói 這孩子真乖 nghĩa là: Đứa bé ngoan quáNghi 宜: Thích hợp 合適, thích nghi 適宜. Quai nghi: Lúc nghịch lúc thuận. Hướng bối 向背: Đi tới rồi trở lui. Hướng bối quai nghi ám chỉ sự tráo trở bất nhất.

11. Ngược 虐: Trong thể chữ triện của chữ này, ở trên là bộ  (con cọp), dưới là một người bị vuốt cọp bấu vào nhưng giản lược còn thấy móng vuốt; vậy nghĩa gốc của chữ này là cọp vồ người; ý nói tàn bạo 殘暴, bạo ngược 暴虐. Ngược hạ thủ công: Lập công trạng bằng cách ngược đãi kẻ dưới quyền.

12. Siểm 諂: Nịnh bợ (諂媚 siểm mị). Td. Bất kiêu bất siểm 不驕不諂: Không kiêu căng cũng không nịnh bợ. Hy 希: Hiếm hoi (希罕 hy hãn). Td. Vật dĩ hy vi quý 物以希為貴: Vật chất lấy sự hiếm hoi làm điều quý (Vật quý là do hiếm hoi). Nhưng chữ hy ở đây nghĩa là mong đợi đón bắt (揣合 sủy hợp, 迎合 nghinh hợp). Chỉ 旨: Ý chỉ mục đích. Siểm thượng hy chỉ: Nịnh bợ kẻ trên để đón bắt ý muốn hay mục đích của họ (nhằm cầu cạnh sự sủng ái hoặc trục lợi).

13.  辜: Tội. Td. Dân chi vô cô 民之無辜 [Thi Kinh 詩經, Tiểu Nhã 小雅, Chính Nguyệt 正月] (Dân đen vô tội). Thành ngữ: Tử hữu dư cô 死有余辜: Tử hình cũng còn nhẹ so với tội ác quá lớn của hắn. Hình phạt vô cô: Hình phạt người vô tội.

14. Tru 誅: Giết chết tội nhân. Lục 戮 đồng nghĩa với sát 殺 (giết), thường nói sát lục 殺戮 hoặc tru lục 誅戮. Hàng 降: Đầu hàng 投降, quy thuận 歸順, hàng phục 降伏. Td. Ninh tử bất hàng 寧死不降 (Thà chết chứ không quy hàng). Chữ 降 này còn đọc là giáng (phản nghĩa của thăng 升). Tru hàng lục phục tức là tru lục hàng phục (giết chết kẻ quy hàng).

15. Lộ 賂: Hối lộ 賄賂. Theo Vương Lực, Sđd. tr. 188, thượng cổ chữ lộ không có nghĩa là hối lộ mà nghĩa là tặng cho (贈送 tặng tống). Để chỉ sự hối lộ, thượng cổ dùng chữ cầu 賕. Về sau này chữ lộ mới mang ý nghĩa là «đút lót, hối lộ»Td. Lại tọa thụ cầu uổng pháp 吏坐受賕枉法 [Hán Thư 漢書, Hình Pháp Chí 刑法志] (Bọn nha lại ngồi ăn của đút làm cong vẹo pháp luật). Khí 棄: Vất bỏ, xả bỏ (舍去 xả khứ, 拋棄 phao khí, 舍棄 xả khí, 扔掉 nhưng điệu). Td. Khí quyền 棄權 (Vất bỏ quyền chức); Khí trí bất cố 棄置不顧 (Vất bỏ chẳng màng). Khí pháp thụ lộ: Bỏ qua pháp luật mà nhận của hối lộ.

16. Ung tắc 壅塞: Cản trở làm bế tắc, lấp chận lại (阻塞 trở tắc). Td. Thủy đạo ung tắc 水道壅塞 (Đường nước chảy bị chập lấp). Thả gian nhân tại thượng tắc ung át hiền giả nhi bất tiến dã 且奸人在上必壅遏賢者而不進也 [Quản Tử 管子, Lập Chính Cửu Bại Giải 立政九敗解] (Kẻ gian tà ở địa vị cao ắt sẽ lấn át và cản trở không cho người hiền tiến lên). Chữ 塞 còn đọc là tái(biên ải). Phương thuật: Hứa Chỉ Tịnh chú rằng đây là nói chung các nghề như y (thầy thuốc), bốc (bói toán), tinh (chiêm tinh), tướng (xem tướng), v.v. Thật sự ta phải đặt nội dung câu này vào xã hội Trung Quốc cổ đại. Thời tiên Tần lưỡng Hán, đã có rất nhiều người theo vu giáo (một dạng tôn giáo nguyên thủy) gọi là phương sĩ rất tinh thông y bốc tinh tướng v.v. Ngày nay, chỉ có y (Đông y) của phương thuật là còn được xã hội nhìn nhận. Cho nên câu ung tắc phương thuật có thể dịch thoát là “cản trở tài năng khéo léo của người khác”.

17. Sán 訕: Bài bác, phê bình, chê bai, chỉ trích, công khai vạch lỗi người khác 公開指責別人的過失. Báng 謗: Ác ý công kích người khác 惡意攻擊別人. Sán báng đồng nghĩa với bài báng 排謗, hủy báng 毀謗, để hủy 詆毀. Td. Văn học năng ngôn nhi bất năng hành, cư hạ nhi sán thượng 文學能言而不能行居下而訕上 [Diêm Thiết Luận 鹽鐵論, Địa Quảng 地廣] (Bọn văn nhân học giả chỉ biết nói chứ không biết làm, ở bên dưới mà chê bai chỉ trích người trên). Tín năng kiến nghi, trung nhi bị báng 信能見疑忠而被謗 [Sử Ký 史記, Khuất Nguyên Truyện 屈原傳] (Thành tín mà bị nghi ngờ, hết lòng mà bị chê trách).

18. Xạ 射: Bắn. Trục 逐: Rượt đuổi. Phi 飛: Bay, ở đây ám chỉ loài chim. Tẩu 走: Chạy, ở đây ám chỉ loài thú.

19. Trập 蟄: Loài vật làm tổ, ẩn sâu và ngủ yên cho qua mùa đông giá 動物冬眠藏起來不食不動. Td. Trập trùng thủy tác 蟄蟲始作 [Trang Tử 莊子, Thiên Vận 天運] (Loài côn trùng ngủ sâu trong đất nay bắt đầu thức dậy). Phát trập 發蟄: Nói rộng ra là phát quang hay phá hư ổ hang của loài vật và côn trùng trong đất, gò đất, v.v. Thê 棲: Chim đậu trên cây. Kinh thê: Làm kinh động nơi chim đậu. Thê nghĩa rộng là cư trú, lưu ngụ. Td. Thê thân chi xứ 棲身之處 (Chỗ cư ngụ). Ngô tương an thê 吾將安棲? [Lý Bạch 李白, Vạn Phẫn Từ Đầu Ngụy Lang Trung 萬憤詞投魏郎中] (Ta sẽ cư ngụ nơi nào?). [An 安 là hư từ chỉ nơi chốn: nơi nào?].

20. Điền 填: Lấp đầy chỗ trống. Điền huyệt 填穴: Lấp lỗ hang. Phúc 覆: Lật úp. Phúc sào 覆巢: Lật úp tổ chim. Lỗ hang dưới đất gọi là huyệt, tổ chim trên cây gọi là sào, nghĩa bóng sào huyệt 巢穴 là nơi ẩn núp của bọn bất hảo. Nghĩa bóng của phúc sào là tiêu diệt sào huyệt bọn trộm cướp. Td. Bất sổ nguyệt tất phúc tặc sào 不數月必覆賊巢 [Tân Đường Thư 新唐書, Đỗ Mục Truyện 杜牧傳] (Không quá vài tháng ắt tiêu diệt được hang ổ của bọn cướp).

21. Thiết 竊: Ăn trộm (偷 thâu), một cách lén lút (偷偷地 thâu thâu địa, 暗中 ám trung).

22. Tế 蔽: Che đậy (遮 già, 遮蔽 già tế, 掩蔽 yểm tế).

23.  醜: Tướng mạo khó coi (相貌難看 tướng mạo nan khán), xấu ác (不好 bất hảo, 惡 ác).  chuyển nghĩa thành sỉ nhục 恥辱, tăng ố 憎惡 (ghét). Td. Chung thân chi xú 終身之醜[Trang Tử 莊子, Ngoại Vật 外物] (Sự nhục nhã đáng hổ thẹn vào cuối đời). Ngã thậm xú chi 我甚醜之 (Ta thật ghét nó). Lưu xú vạn niên 流醜萬年 (Để lại tai tiếng đời đời). Xú danh 醜名 (tai tiếng). Hình 形 ở đây là động từ, nghĩa là biểu hiện 表現. Td. Hỷ nộ bất hình ư sắc 喜怒不形于色 (Vui và giận không thể hiện ra sắc mặt). Hình nhân chi xú: Nêu tướng xấu hoặc điều xấu của người khác ra.

24. Yết 訐: Công kích 攻擊, xoi bói. Cũng đọc là kiếtYết nhân chi tư: Xoi bói chuyện riêng tư của người khác 揭發別人的陰私.

25. Sính 逞: (1) Hiển xuất 顯出, biểu hiện 表現. Td. Sính năng 逞能 (biểu lộ khả năng), sính cường 逞強 (biểu lộ sức mạnh). (2) Vừa lòng hả dạ (xứng ý). Td. Dâm hình dĩ sính, thùy tắc vô tội? 淫刑以逞誰則無罪 [Tả Truyện 左傳, Hy Công Nhị Thập Tam Niên 僖公二十三年] (Lạm dụng hình phạt để vừa lòng hả dạ, ai sẽ là người vô tội đây?). [Dâm: Lạm dụng thái quá]. Sính chí tác uy: Phô trương uy quyền cho hả dạ phỉ chí.

26. Miêu 苗: Mạ lúa, mầm non thực vật 初生的植物. Td. Mạch miêu 麥苗 (mầm lúa mạch), thanh miêu 青苗 (mạ non), đậu miêu 豆苗 (mầm đậu). Giá 稼: (1) Làm ruộng cấy lúa (種田chủng điền). (2) Ngũ cốc 五谷 (莊稼 trang giá). Td. Chủng trang giá 種莊稼 (trồng ngũ cốc), giá sắc 稼穡 (làm việc đồng áng). Thập nguyệt nạp hoà giá 十月納禾稼 [Thi Kinh 詩經, Thất Nguyệt 七月] (Tháng 10 thu hoạch lúa và ngũ cốc). Miêu giá 苗稼: Mạ lúa và ngũ cốc, nói chung là việc trồng trọt ruộng rẫy (農事 nông sự).

27. Cẩu phú 苟富: Mới giàu lên chút đỉnh. Cẩu phú nhi kiêu: Mới giàu lên chút đỉnh mà kiêu căng phách lối. Cẩu: (1) Nếu (xem lại chú thích 1, cẩu hoặc). (2) Sơ sài, tạm bợ (苟且 cẩu thả). Td. Nhất nhật chi cẩu an, sổ bách niên chi đại hoạn dã 一日之苟安數百年之大患也 [Trần Lượng 陳亮, Thượng Hiếu Tông Hoàng Đế Đệ Nhất Thư 上孝宗皇帝第一書] (Tạm yên một ngày nhưng sẽ là mối lo lớn cho mấy trăm năm sau).

28. Cẩu miễn 苟免: Trốn tránh cho khỏi bị hình phạt, tử vong, v.v. Miễn 免: Thoát khỏi 脫. Sỉ 恥: Nhục, sỉ nhục, xấu hổ (羞愧 tu quý). Td. Việt Vương khổ Cối Kê chi sỉ 越王苦會稽之恥[Lã Thị Xuân Thu 呂氏春秋, Thuận Dân 順民] (Việt Vương Câu Tiễn đau khổ vì cái nhục ở Cối Kê). Cẩu miễn vô sỉ: Tránh né hình phạt mà không biết xấu hổ. Vương Lực phân biệt 3 chữ: tu羞, sỉ 恥, nhục 辱:

Tu 羞 là xấu hổ (羞愧 tu quý) nhưng không chú trọng đến mức độ sự xấu hổ. Hại tu 害羞: Mắc cỡ. Tu đắc kiểm thông hồng 羞得臉通紅 (mắc cỡ đỏ mặt).

* 恥 và nhục 辱 dùng như danh từ thì đồng nghĩa nhau: sự việc đáng xấu hổ. Nhưng khi dùng như động từ thì chúng không đồng nghĩa. Td. Sỉ chi 恥之 (làm cho nó phải xấu hổ), nhục chi辱之 (làm nhục nó). Công xúc tu sỉ 公觸羞恥 (làm cho mọi người nơi công cộng phải xấu hổ mắc cỡ).

29. Giá 嫁: Lấy chồng là giá 嫁, lấy vợ là thú 娶. Xuất giá 出嫁 (Lấy chồng và về nhà chồng). Thú thê 娶妻 (Lấy vợ). Giá thú 嫁娶 (Lấy chồng lấy vợ). Giá cũng có nghĩa là gả con gái cho ai. Td. Tích Tần Bá giá kỳ nữ ư Tấn công tử 昔秦伯嫁其女於晉公子 [Hàn Phi Tử 韓非子, Ngoại Trừ Thuyết Tả Thượng 外儲說左上] (Ngày xưa Tần Bá gả con gái cho Tấn công tử). Từ đó nhân duyên chồng vợ gọi là duyên Tần Tấn. Chữ thú 娶 gồm chữ thủ 取 (giữ lấy) hợp với chữ nữ , ý nói người đàn ông giữ lấy người con gái. Chữ giá 嫁 gồm chữ nữ 女 hợp với chữ gia家, ngụ ý là gái về nhà chồng. Gái hư về nhà chồng thì gây tai hoạ cho nhà chồng. Vì thế chữ giá chuyển nghĩa là gây điều xấu cho người như nói vu oan giá hoạ 誣冤嫁禍 (vu khống điều oan ức cho người, gieo tai hoạ cho người).Td. Hàn thị sở dĩ bất nhập ư Tần giả, dục giá kỳ họa ư Triệu dã 韓氏不入於秦者欲嫁其禍於趙也 [Sử Ký 史記, Triệu Thế Gia 趙世家] (Lý do mà họ Hàn không vào đất Tần là muốn gieo họa cho Triệu). Chú ý: Sở dĩ trong Cổ Hán ngữ để chỉ nguyên do, nhưng trong Hán ngữ hiện đại thì chỉ kết quả. Mại 賣: Bán. Mãi 買: Mua. Mại ác: Bán (gán) điều ác cho ai.

30. Cô 沽: (1) Mua (= mãi 買). Td. thành ngữ Cô danh điếu dự 沽名釣譽 (Mua danh câu tiếng: to fish for fame and compliments). (2) Bán (= mại 賣). Td. thành ngữ Đãi giá nhi cô 待價而沽(Đợi được giá cao mới bán ra: to wait for the highest offer; nghĩa bóng ám chỉ những kẻ sĩ đợi người cầu thỉnh và hậu đãi mới chịu cộng tác). Hữu mỹ ngọc ư tư, uẩn độc nhi tàng chư: cầu thiện giá nhi cô chư? 有美玉於斯韞匵而藏諸求善賈而沽諸 [Luận Ngữ 論語, Tử Hãn 子罕] (Có ngọc đẹp ở đây, nên cất trữ trong hộp hay là mong cầu được giá cao mà bán đi?). Chữ cô mãi trong bài đồng nghĩa với mại mãi (bán và mua). Cô mãi hư dự: Bán và mua cái danh tiếng hão huyền.

31. Bao 包: Bao che, bọc gói. Trữ 貯: Tích trữ, chất chứa. Bao trữ hiểm tâm: Chất chứa lòng dạ sâu hiểm ác độc.

32. Toả 挫: (1) Bẻ gãy, làm cho ai hao tổn và thất bại (挫折 toả chiết, 折損 chiết tổn). Td. Nhuệ nhi bất toả 銳而不挫 [Hoài Nam Tử 淮南子, Thời Tắc 時則] (Tinh nhuệ và không bị đánh bại). (2) Áp chế 壓制: đè nén. Td. Bật vi chính, đặc toả ức cường hào 弼為政特挫抑強豪 [Hậu Hán Thư 後漢書, Sử Bật Truyện 史弼傳] (Sử Bật làm chính trị, chuyên trấn áp bọn cường hào).Toả nhân sở trường: Cản trở hoặc áp chế tài năng của người khác.

33. Cố 故: Lý do (緣故 duyên cố, 原因 nguyên nhân). Td. thành ngữ Vô duyên vô cố 無緣無故 (Chẳng có lý do gì). Tiển 剪: Cây kéo, cắt bỏ, diệt trừ. Td. Tiển thảo trừ căn 剪草除根 (Diệt cỏ tận gốc). Tài 裁: Cắt xén, triệt bỏ (裁撤 tài triệt). Td. Tiển tiệt phù từ vị chi tài 剪截浮詞謂之裁 [Lưu Hiệp 劉勰, Văn Tâm Điêu Long 文心雕龍] (Cắt bỏ hết những lời sáo rỗng gọi là tài). Tiển tài: Cắt xén bỏ đi.Vô cố tiển tài: Cắt xén chặt bỏ (cây cối) mà chẳng có lý do.

34. Phanh 烹: (1) Nấu nướng (煮 chử, 燒煮 sao chử). (2) Giết chết, tiêu diệt. Td. Phanh diệt cường bạo 烹滅強暴 [Sử Ký 史記, Tần Thuỷ Hoàng Bản Kỷ 秦始皇本紀] (Tiêu diệt bọn cường bạo). Tể 宰: Giết súc vật (= đồ 屠). Td. Tể trư 宰豬 (giết heo). Đồ tể 屠宰 (kẻ chuyên giết súc vật; đồ và tể đồng nghĩa với nhau). Td. Phanh dương tể ngưu thả vi lạc 烹羊宰牛且為樂 [Lý Bạch 李白, Tương Tiến Tửu 將進酒] (Giết dê mổ bò lấy làm vui). Phi lễ phanh tể: Không nhằm ngày lễ lạc mà giết mổ súc vật. Để hiểu ý này ta cần hình dung một xã hội Trung Quốc cổ đại mà việc ăn thịt là một thói xa xỉ. Chỉ phanh tể súc vật khi có lý do chính đáng, thí dụ như cúng tế. Người ta cúng tế thần linh bằng tam sinh 三牲 (ngưu 牛, dương 羊, trư 豬). Về sau, có lẽ để đỡ tốn kém, người Trung Quốc thay bằng trư 豬, kê 雞, ngư 魚 (người Việt Nam thay bằng một miếng thịt heo luộc, một quả trứng và một con tôm). Cũng như nông thôn miền Bắc của ta ngày xưa, quanh năm chỉ có tương cà, mỗi khi có lễ hội cúng tế mới ngả trâu bò hay lợn và chia thịt với nhau. Như vậy ý câu này răn đe rằng: không có lý do chính đáng mà giết mổ súc vật là có tội hoang phí xa xỉ (đặc biệt là trâu bò rất cần cho cày ruộng).

35. Tán 散: Vãi ra, vung ra. Khí 棄: Vất bỏ. Tán khí ngũ cốc: Vung vãi vất bỏ ngũ cốc. Đây cũng là một tội vì hoang phí lương thực mà nhà nông trải bao khó nhọc mới thu hoạch được.

36. Quyết 決: (1) Bờ đê, bờ sông bị nước xói mòn 堤岸被水沖開口子. Nghĩa gốc của quyết là bài trừ những vật chướng ngại để thông đường nước 排除阻塞物疏通水道. Quyết thủy 決水(Xoi bờ cho nước tràn). Td. Vũ quyết giang sơ hà 禹決江疏河 [Giả Tư Hiệp 賈思勰, Tế Dân Yêu Cầu 濟民要求] (Vua Vũ dẹp chướng ngại vật để thông giòng chảy của sông). (2) Nước xói mòn đê điều 水把堤防沖開. Td. Hà thủy quyết Bộc Dương phiếm thập lục quận 河水決濮陽泛十六郡 [Hán Thư 漢書, Vũ Đế Kỷ 武帝紀] (Nước sông xói mòn đê điều ở Bộc Dương tràn ngập 16 quận).

36. Vặn 紊: Loạn, rối ren. Vặn loạn là hai chữ đồng nghĩa ghép lại thành một từ. Td. Chính hình trì vặn 政刑弛紊 [Nam Sử 南史, Lương Vũ Đế Kỷ 梁武帝紀] (Chính trị và hình pháp buông lỏng rối ren). Qui mô 規模: Pháp độ, qui phạm, phép tắc. Vặn loạn qui mô: Làm rối loạn phép tắc (khiến công trình của người khác bị thất bại).

38. Lưu 流: Lưu đày, lưu phóng 流放 (đầy ải đi xa). Td. Lưu Cộng Công ư U Châu phóng Hoan Đâu ư Sùng Sơn 流共工於幽州放驩兜於崇山 [Thượng Thư 尚書, Thuấn Điển 舜典] (Lưu đày Cộng Công nơi U Châu và lưu đày Hoan Đâu nơi Sùng Sơn). Biếm 貶: Giáng chức 降職. Lưu biếm: Bị lưu đày và giáng chức.

39.  私: (1) Riêng tư. (2) Quan hệ tính dục nam nữ bất chính 男女不正當的性關係. Td. Kỳ thê tư nhân 其妻私人 [Chiến Quốc Sách 戰國策, Yên Sách Nhất 燕策一] (Vợ hắn thông gian với người khác). Kiến tha sắc mỹ khởi tâm tư chi: Thấy ai xinh đẹp thì sinh lòng tà dâm muốn thông gian. Có bản Kinh Cảm Ứng chép thành chữ tư 思 (tư tưởng, nghĩ đến). Khởi tâm đã là  思 rồi. Sở dĩ người ta chép lầm như vậy vì không ngờ chữ tư 私 cổ đại có nghĩa là thông gian, gian dâm. Trong Hán ngữ hiện đại, chữ tư 私 đã mất ý nghĩa là thông gian này.

40. Can cầu 干求: Truy cầu 追求 (ám chỉ mong cầu chức vị, bổng lộc). Can lộc 干綠: Cầu bổng lộc. Toại 遂: Theo ý muốn (如意 như ý). Td. Toại tâm 遂心, toại nguyện 遂願. Chú 咒: Chưởi bới, nguyền rủa (咒罵 chú mạ). Can cầu bất toại tiện sinh chú hận: Truy cầu mà không thỏa lòng thì chưởi bới mắng nhiếc.

41. Xưng 稱: Tán dương 贊揚. Td. Thử tứ vương giả, vạn thế chi sở xưng dã, dĩ vi thánh vương, nhiên kỳ đạo do bất năng thủ dụng ư hậu 此四王者萬世之所稱也以為聖王然其道猶不能取用於後 [Thương Quân Thư 商君書, Lai Dân 徠民] (Bốn ông vua Nghiêu, Thuấn, Thang, Vũ ấy được vạn đời tán dương khen ngợi là thánh vương, nhưng đường lối của họ không được hậu thế dùng đến). Kiến tha tài năng khả xưng nhi ức chi: Thấy người tài giỏi, ngoài miệng thì tán dương nhưng lại tìm cách đè nén họ.

DỊCH ĐIỀU 5

Nếu như ai mà hành động những điều phi nghĩa trái đạo lý (như sau đây)…

(1) Lấy thủ đoạn độc ác làm tài năng của mình, (2) Nhẫn tâm làm điều tàn ác độc hại, (3) Lén hại người lương thiện, (4) Thầm khinh cha mẹ, (5) Khinh khi thầy dạy, (6) Phản bội nơi mình phục vụ, làm việc, (7) Lừa bịp người không hiểu biết, (8) Chê bai bạn học, (9) Dối trá lật lọng, công kích họ hàng thân tộc, (10) Hung bạo không thương người, (11) Tự có những thủ đoạn độc ác, (12) Chẳng cần biết đúng sai phải quấy, (13) Tráo trở ngược xuôi, (14) Bạo ngược đối với kẻ dưới để lập công, (15) Nịnh bợ cấp trên, đón ý để trục lợi, (16) Nhận ơn ai, chẳng biết cảm động, (17) Luôn ôm lòng oán hận không dứt, (18) Khinh bỉ Trời và dân chúng, (19) Gây rối loạn chính trị trong nước, (20) Khen thưởng kẻ phi nghĩa, (21) Trừng phạt kẻ vô tội, (22) Giết người cướp của, (23) Lật đổ người khác để chiếm địa vị của họ, (24) Giết kẻ đầu hàng, (25) Giáng chức người ngay, bài trừ người hiền, (26) Lăng nhục cô nhi, bức hại goá phụ, (27) Bỏ qua pháp luật để ăn hối lộ, (28) Lấy thẳng làm cong, lấy cong làm thẳng, (29) Tội người nhẹ mà làm cho nặng thêm, (30) Thấy người khác bị tội chết mà còn oán giận, (31) Biết lỗi mà không sửa, (32) Biết điều thiện mà không làm, (33) Mình có tội, làm liên lụy kẻ khác, (34) Cản trở tài năng người khác, (35) Chê bai báng bổ thánh hiền, (36) Phá hỏng đạo đức, (37) Săn bắt chim thú, (38) Phá lỗ hang loài vật, làm kinh động chỗ chim đậu, (39) Lấp lỗ hang và lật úp tổ chim, (40) Phá thai hại trứng, (41) Mong cho người khác thất bại, (42) Hủy bỏ sự thành công của người khác, (43) Làm người khác lâm nguy để cho mình yên ổn, (44) Làm người khác hao tốn để cho mình ích lợi, (45) Xem điều ác là điều tốt, (46) Vì việc riêng tư mà phế bỏ việc công, (47) Trộm cắp tài năng của người khác, (48) Che lấp việc tốt của người khác, (49) Phố bày tướng xấu và điều xấu của người khác, (50) Xoi bói chuyện riêng của người khác, (51) Làm cho người khác hao tốn tài vật, (52) Chia rẽ tình cốt nhục của người khác, (53) Xâm phạm tình yêu của người khác, (54) Giúp người khác làm điều quấy, (55) Phô trương uy quyền cho phỉ lòng, (56) Lăng nhục người khác để giành phần thắng, (57) Làm thất bại việc cày cấy của người khác, (58) Phá hoại hôn nhân của người khác, (59) Mới giàu có chút đỉnh đã kiêu căng, (60) Chạy tội, không biết xấu hổ, (61) Mạo nhận ân huệ, chối biến tội lỗi, (62) Gieo họa cho người khác, (63) Mua bán danh hão, (64) Chất chứa lòng dạ sâu hiểm, (65) Ém tài và cản trở tài năng người khác, (66) Bảo vệ chỗ non kém của mình, (67) Cậy quyền thế bức hiếp người khác, (68) Dung túng kẻ bạo ngược để giết hoặc gây thương tích người khác, (69) Không có lý do chính đáng mà cắt xén tỉa bỏ vật gì, (70) Không có lễ lạc mà giết mổ súc vật, (71) Vung vãi bỏ đi ngũ cốc, (72) Làm chúng sinh lao nhọc, phiền nhiễu, (73) Phá hoại gia cang người khác, (74) Giữ lấy tài vật quý báu của người khác, (75) Phá đê điều và đốt nhà làm hại dân cư, (76) Làm loạn phép tắc để cộng người khác bị thất bại, (77) Phá hư dụng cụ, đồ nghề của người khác khiến họ không còn gì để dùng, (78) Thấy người vinh hiển phú quý thì mong cho họ bị giáng chức và lưu đày, (79) Thấy người giàu có thì mong cho họ hao tán của cải, (80) Thấy vợ hay con gái người ta xinh đẹp thì nảy lòng muốn tư thông, (81) Thiếu nợ người tiền bạc của cải thì mong cho họ chết, (82) Mong cầu địa vị bổng lộc mà không toại nguyện thì sinh lòng oán hận chưởi rủa, (83) Thấy người thất lợi thì rêu rao lỗi lầm của họ, (84) Thấy người khác hình hài tướng tá không toàn vẹn thì chê cười, (85) Thấy người tài giỏi, bề ngoài thì tán dương nhưng trong lòng thì tìm cách đè nén họ,…

GIẢI ĐIỀU 5

Cả điều 5 và 6 đều liệt kê những thủ đoạn độc ác và lòng dạ sâu hiểm của con người. Mở đầu điều 5 là câu điều kiện: Nếu làm những điều ác và trái đạo lý [như liệt kê trong điều 5 và 6] thì sẽ bị ác báo [đề cập ở điều 7].

Ta thấy điều 3 và 4 rồi các điều 5, 6, 7 minh hoạ cụ thể cho luật nhân quả: Nhân nào quả đó. Điều 3 [Tích thiện] nói đến nhân tốt, điều 4 [Thiện báo] nói đến quả tốt. Điều 5 và 6 [Chư ác] nói đến nhân xáu, điều 7 [Ác báo] nói đến quả báo xấu.

6. 諸 惡 (下) CHƯ ÁC (HẠ)

埋 蠱 厭 人, 用 藥 殺 樹, 恚 怒 師 傅, 抵 觸 父 兄, 強 取 強 求, 好 侵 好 奪, 擄 掠 致 富, 巧 詐 求 遷, 賞 罰 不 平, 逸 樂 過 節, 荷 虐 其 下, 恐 嚇 於 他, 怨 天 尤 人, 呵 風 罵 雨, 鬥 合 爭 訟, 妄 逐 朋 黨, 用 妻 妾 語 違 父 母訓, 得 新 忘 故, 口 是 心 非, 貪 冒 於 財, 欺 罔 其 上, 造 作 惡 語, 讒 毀 平 人, 毀 人 稱 直, 罵 神 稱 正, 棄 順 效 逆, 背 親 向 疏, 指 天 地 以 證 鄙 懷, 引 神 明 而 鑑 猥 事, 施 與 後 悔, 假 借 不 還, 分 外 營 求, 力 上 施 設, 淫 欲 過 度, 心 毒 貌 慈, 穢 食 餧 人, 左 道 惑 眾, 短 尺 狹 度, 輕 秤 小 升, 以 偽 雜 真, 採 取 姦 利, 壓 良 為 賤, 謾 驀 愚 人, 貪 婪 無 厭, 咒 詛 求 直, 嗜 酒 悖 亂, 骨 肉 忿 爭, 男 不 忠 良, 女 不 柔 順, 不 知 其 室, 不 敬 其 夫, 每 好 矜 誇, 常 行 妒 忌, 無 行 於 妻 子, 失 禮 於 舅 姑, 輕 慢 先 靈, 違 逆 上 命, 作 為 無 益, 懷 挾 外 心, 自 咒 咒 他, 偏 憎 偏 愛, 越 井 越 灶, 跳 食 跳 人, 損 子 墮 胎, 行 多 隱 僻, 晦 臘 歌 舞, 朔 旦 號 怒, 對 北 涕 唾 及 溺, 對 灶 吟 詠 及 哭, 又 以 灶 火 燒 香, 穢 柴 作 食, 夜 起 裸 露, 八 節 行 刑, 唾 流 星 指 紅 霓, 輒 指 三 光, 久 視 日 月, 春 月 燎 臘, 對 北 惡 罵, 無 故 殺 龜 打 蛇.

Mai cổ yếm nhân,1 dụng dược sát thụ, nhuế nộ sư phó,2 để xúc phụ huynh,3 cưỡng thủ cường cầu, háo xâm háo đoạt, lỗ lược trí phú,4 xảo trá cầu thiên,5 thưởng phạt bất bình, dật lạc quá tiết,6 hà ngược kỳ hạ, khủng hách7 ư tha, oán thiên vưu8 nhân, ha9 phong mạ vũ, đấu hiệp tranh tụng, vọng trục bằng đảng, dụng thê thiếp ngữ vi phụ mẫu huấn, đắc tân vong cố, khẩu thị tâm phi, tham mạo ư tài, khi võng10 kỳ thượng, tạo tác ác ngữ, sàm hủy bình nhân, hủy nhân xưng trực, mạ thần xưng chính, khí thuận hiệu nghịch,11 bối thân hướng sơ, chỉ thiên địa dĩ chứng bỉ hoài,12 dẫn thần minh nhi giám ôi sự,13 thí dữ hậu hối, giả tá bất hoàn, phận ngoại doanh cầu,14 lực thượng thi thiết,15 dâm dục quá độ, tâm độc mạo từ, uế thực ủy nhân,16 tả đạo hoặc chúng, đoản xích hiệp độ,17 khinh xứng tiểu thăng, dĩ ngụy tạp chân, thái thủ gian lợi,18 áp lương vi tiện, mạn mạch19 ngu nhân, tham lam vô yếm,20 chú thư cầu trực,21 thị tửu bột loạn,23 cốt nhục phẫn tranh, nam bất trung lương, nữ bất nhu thuận, bất tri kỳ thất, bất kính kỳ phu, mỗi háo căng khoa, thuờng hành đố kỵ, vô hạnh ư thê tử, thất lễ ư cữu cô, khinh mạn tiên linh, vi nghịch thượng mệnh, tác vi vô ích, hoài hiệp ngoại tâm,23 tự chú chú tha, thiên tăng thiên ái, việt tỉnh việt táo,24 khiêu thực khiêu nhân, tổn tử đọa thai,25 hành đa ẩn tịch, hối lạp ca vũ,26 sóc đán hiệu nộ,27 đối bắc thế thóa cập niệu (nịch),28 đối táo ngâm vịnh cập khốc, hựu dĩ táo hỏa thiêu hương, uế sài tác thực, dạ khởi lõa lộ, bát tiết hành hình,29 thóa lưu tinh,30 chỉ hồng nghê,31 triếp chỉ tam quang,32 cửu thị nhật nguyệt, xuân nguyệt liệu lạp,33 đối bắc ác mạ, vô cố sát qui đả xà.

TỪ NGỮ

1. Mai 埋: Chôn giấu. Td. Mai danh ẩn tích /ẩn tích mai danh 隱跡埋名 (giấu tên và tung tích). Mai một 埋沒: chôn mất đi. Td. Bất khả mai một nhân tài 不可埋沒人才 (không thể chôn mất nhân tài). Cổ 蠱 [xem chú 13 của điều 2]: Một loại độc trùng. Thời xưa dùng độc trùng để làm bùa ếm người, nên có từ vu cổ 巫蠱 (nghĩa là dùng vu thuật độc hại người). Td. Tấu ngôn thượng tật sùng tại vu cổ 奏言上疾崇在巫蠱 [Hán thư 漢書, Giang Sung truyện 江充傳] (Trình tấu rằng bề trên có thói sùng thượng bùa phép ếm hại người). Nghĩa rộng, cổ là mê hoặc, lừa dối. Cổ thế 蠱世: dối đời.

Yếm 厭: Ghét chán (thảo yếm 討厭). Theo Vương Lực [sđd, tr. 329], ngày xưa chữ yếm dùng thông với chữ áp 壓 (nghĩa là áp chế đè nén: áp ức 壓抑, áp chế 壓制). Td. Đông yếm chư hầu chi quyền 東厭諸侯之權 [Hán thư 漢書, Dực Phụng truyện 翼奉傳] (Ở phía đông thì áp chế quyền lực của chư hầu). Ngoài ra, còn có nghĩa là trấn áp yêu tà 鎮壓夭邪. Td. Tần Thuỷ Hoàng Đế thường viết đông nam hữu yêu khí. Ư thị, nhân đông du dĩ yếm chi 秦始皇帝常曰東南有夭氣於是因東游以厭之 [Sử Ký 史記, Tần Thuỷ Hoàng bản kỷ 秦始皇本紀] (Tần Thuỷ Hoàng Đế nói phía đông nam có yêu khí, nên nhân tiện đi hướng đông mà trấn yểm luôn). Mai cổ yếm nhân: Chôn bùa ếm hại người khác.

2. Nhuế 恚: Giận hờn, oán hận, nổi giận (=nộ 怒, hận 恨). Td. Qui dĩ cáo Mông mẫu, mẫu nhuế, dục phạt chi 歸以告蒙母母恚欲罰之 [Tam Quốc Chí 三國誌, Ngô thư 吳書, Lã Mông truyện 呂蒙傳] (Trở về bảo với mẹ của Lã Mông, bà ta giận lắm và muốn trừng phạt Lã Mông). Phó 傅: Dạy dỗ dẫn dắt người khác (giáo đạo 教導). Sư phó là người thầy dạy học (教導人的人). Ngày nay sư phó là tiếng tôn xưng chỉ giáo viên dạy nghề hoặc công nhân giỏi có kinh nghiệm thực tiễn (傳授技藝的老師和對有實踐經驗工人的尊稱). Nhuế nộ sư phó: Oán giận thầy dạy (chữ cũng như nghề).

3. Để 抵: Chống chọi lại (để kháng 抵抗). Để xúc 抵觸: Phát sinh xung đột 發生沖突. Để xúc phụ huynh: Xung đột với cha và anh.

4. Lỗ 擄: Sang đoạt. Lược 掠: Đoạt lấy, cướp lấy. Trí 致: Đạt tới (đắc đáo 得到, thủ đắc 取得). Td. Trung ngôn phất ư nhĩ, nhi minh chủ thính chi, tri kỳ khả dĩ trí công dã 忠言拂於耳而明主聽之知其可以致功也 [Hàn Phi Tử 韓非子, Ngoại trừ thuyết tả thượng 外儲說左上] (Lời nói trung thực thì không thuận tai, nhưng minh chủ đã nghe cho, thì đủ biết sẽ có thể đạt được công trạng rồi). Lỗ lược trí phú: Cướp giật để trở nên giầu có.

5. Thiên 遷: Nghĩa gốc là dời chuyển (thiên di 遷移), nghĩa rộng là điều động quan chức 調動官職 hay thăng quan 升官. Td. Hiếu Văn Đế duyệt chi, siêu thiên, nhất tuế trung chí thái trung đại phu 孝文帝說之超遷一歲中至太中大夫 [Sử Ký 史記, Giả Nghị truyện 賈誼傳] (Hiếu Văn Đế thích Giả Nghị nên cho thăng quan vượt cấp, trong vòng một năm đã lên chức thái trung đại phu) [Chữ thuyết 說 (đọc) dùng thông với duyệt 悅 (vui thích)]. Xảo trá cầu thiên: Xảo trá cầu thăng quan tiến chức.

6. Dật 逸: (1) Chạy (= đào bào 逃跑) Td. Mã dật bất năng chỉ 馬逸不能止 (Ngựa chạy không dừng được), (2) Ẩn dật 隱逸, (3) Phóng thích tội nhân 釋放, (4) An nhàn 安閑, an dật 安逸, (5) Nghĩa trong bài là phóng đãng 放蕩, phóng túng 放縱 như dâm dật (phóng đãng quá mức). Td. Chuyên dâm dật xỉ mỹ, bất cố quốc chính 專淫逸侈靡不顧國政 [Chiến Quốc Sách 戰國策,Sở sách tứ 楚策四] (Chỉ chuyên dâm dật xa xỉ, chẳng ngó ngàng việc nước). Dật lạc quá tiết: Dâm dật và hưởng lạc không tiết độ.

7. Hách 嚇: Đe dọa =đỗng hách 恫嚇, khủng hách 恐嚇.

8. Vưu 尤: Nghĩa gốc là tội lỗi (quá thất, tội quá)nghĩa rộng là oán trách, đổ tội cho ai. Td. Oán thiên vưu nhân 怨天尤人 (oán trời, hận người).

9. Ha 呵: Mắng chưởi (= mạ 罵).

10. Võng 罔: Che đậy bưng bít (= mông tế 蒙蔽).

11. Hiệu 效: Bắt chước (mô phỏng 模仿, hiệu pháp 效法), dùng như chữ 傚. Td. Hiệu vưu, họa dã 效尤禍也 [Tả Truyện 左傳, Văn Công nguyên niên 文公元年] (Bắt chước điều quấy, ắt bị họa vậy). Khí thuận hiệu nghịch: Bỏ điều đúng, bắt chước điều quấy. (Thuận: thuận đạo lý; nghịch: nghịch đạo lý).

12. Bỉ 鄙: Tầm thường, thấp hèn (dung tục 庸俗, thiển lậu 淺陋). Hoài 懷: Tâm tình 心情, tâm ý 心意. Td. Khẳng khái thương hoài khấp sổ hàng hạ 慷慨傷懷泣數行下 [Sử Ký 史記, Cao Tổ bản kỷ 高祖本紀] (Khẳng khái đau lòng, mấy giòng lệ tuôn). Bỉ hoài: Lòng dạ xấu xa đen tối.

13. Ôi (ổi) 猥: Bỉ lậu 鄙陋, hạ lưu 下流. Ôi tiết 猥褻 (tục tĩu) [tiết 褻: áo lót phụ nữ], ôi tiết ngữ 猥褻語 (lời nói dâm tục), ôi tiết hành vi 猥褻行為 (hành vi dâm tục). Ôi sự: Sự việc đê tiện dâm tục.

14. Doanh 營: Mưu cầu 謀求Td. Vô doanh vô dục 無營無欲 (không mong cầu, không ham muốn). Phận 分: Thân phận 身分. Phận ngoại doanh cầu: Mưu cầu vọng tưởng những điều vượt quá phận mình (trái nghĩa: An phận thủ thường).

15. Lực 力: Tận lực 盡力. Td. Cứ lý lực tranh 據理力爭 (Theo lý mà tranh cãi hết mình). Lực chiến 力戰 (Tận lực chiến đấu). Thi 施: Thi thiết 施設, thiết trí 設置 (xếp đặt, bố trí 布置). Td. Lập pháp thiết độ, chỉnh lý nhung lữ 立法施度整理戎旅 [Tam Quốc Chí 三國誌, Thục Thư 蜀書, Gia Cát Lượng truyện 諸葛亮傳] (Lập pháp, xếp đặt có chừng mực và chỉnh lý quân đội ).Lực thượng thi thiết: Gắng sức mưu cầu phú quý. Hứa Chỉ Tịnh chú: Người đời có cái bệnh lớn nhất là cả đời mưu đồ phú quý, vì con cháu mà nai lưng trâu ngựa để làm lụng lo cho chúng thụ hưởng. Rốt cuộc sức tàn gân mỏi [lực tận cân bì 力盡筋疲]. Xét cho cùng cũng là vô ích, đôi khi mang họa vào thân. Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên.

16. Uế 穢: Dơ bẩn (khảng tảng 骯髒, ô uế 污穢). Uỷ 餧: Đưa thức ăn cho ai ăn, đút ăn, mời ăn 把食物送進人嘴里.

17. Hiệp 狹: Hẹp. Td. Hiệp trách 狹窄 (hẹp hòi). Hiệp lộ tương phùng 狹路相逢 (Hai kẻ cừu địch gặp nhau chỗ đường hẹp). Đoản xích 短尺: Thước ngắn thước non.

18. Thái 採: Tuyển chọn (thái thủ 採取, thái dụng 採用). Gian lợi 姦利: Cái lợi gian trá.

19. Mạn 謾: Khinh mạn 輕慢, lừa gạt (khi biển 欺騙, mông tế 蒙蔽). Mạch 驀: Bước qua (việt quá 越過). Mạn mạch: Khinh gạt, lấn lướt.

20. Vô yếm 無厭: Không biết chán.

21. Chú thư 咒詛: Tố cáo tội trạng lẫn nhau hay thề thốt trước mặt thần linh.

22. Thị 嗜: Ưa thích (thị hiếu 嗜好, thị dục 嗜欲), thích cụ thể thứ gì. Td. Thị tửu háo lạp 嗜酒好獵 [Sử Ký 史記, Tề Thái Công thế gia 齊太公世家] (Thích rượu, ưa săn bắn). Bột 悖: Hỗn loạn 混亂, xung đột 沖突.

23. Hoài hiệp 懷挾: Âm thầm, ám tàng 暗藏. Ngoại tâm: Sinh lòng khác. Hứa Chỉ Tịnh chú: Quần thần có ngoại tâm thì khinh gạt vua, con có ngoại tâm thì dối lừa cha mẹ, chồng vợ có ngoại tâm thì thông gian với người khác, huynh đệ có ngoại tâm thì phản bội nhau.

24. Việt 越: Bước qua. Tỉnh 井: Giếng. Táo 灶: Bếp lò.

25. Tổn 損: Làm hư hao bớt đi, tổn hại 損害, tổn thất 損失. Đọa 墮: Đọa lạc 墮落, làm rớt xuống, hủy hoại 毀壞. Đọa thai 墮胎: Phá thai.

26. Hối 晦: Ngày cuối tháng âm lịch 夏歷每月的末一天. Lạp 臘: Tháng chạp âm lịch. Theo cấu trúc câu này, ta hiểu hối là ngày cuối tháng âm lịch, lạp là ngày cuối năm âm lịch. Hối lạp ca vũ: Ca hát múa may vào ngày cuối tháng và cuối năm âm lịch. Nhưng Hứa Chỉ Tịnh chú: Hối là cuối tháng (nguyệt để). Lạp thì có 5 loại: (1) Nguyên đán (ngày đầu năm), (2) Đoan ngọ (ngày mồng 5 tháng 5 âm lịch), (3) Thất tịch (đêm mồng 7 tháng 7 âm lịch, Ngưu Lang Chức Nữ gặp nhau, có mưa ngâu), (4) Thập nguyệt sóc (mồng một tháng 10 âm lịch), (5) Cuối năm (Tuế để). Đó là những ngày thiên thần giám sát tội lỗi người đời. 晦是月底. 臘有五. 元旦, 端午, 七夕, 十月朔, 歲底. 都是天神察人善惡之日.

27. Sóc 朔: Mồng một âm lịch. Rằm (15 âm lịch) gọi là vọng 望. Bấy giờ địa cầu di chuyển đến vị trí giữa mặt trời và mặt trăng. Vì mặt trời mặt trăng một lên một xuống, một đông một tây nên xa xôi mong ngóng nhau, gọi là vọng, hoặc vọng nhật (每月十五日《有時是十六日, 偶爾是十七日》叫做望. 這時地球運行到月亮和太陽的中間. 由于太陽和月亮此升彼落, 一東一西, 遙遙相望, 所以叫望). Đán 旦: Nguyên nghĩa là sáng sớm (thanh thần 清晨, tảo thần 早晨), phản nghĩa với mộ 暮 (chiều tối). Td. Đán từ gia nương khứ, mộ túc Hoàng Hà biên 旦辭爺娘去暮宿黃河邊 [Mộc Lan thi 木蘭詩] (Sáng sớm từ biệt cha mẹ ra đi, chiều tối tá túc bên sông Hoàng Hà). Nghĩa rộng của đán là ngày, như nguyên đán 元旦 (ngày đầu năm, mồng một tết âm lịch). Theo cấu trúc câu này, sóc đán là ngày đầu tháng và đầu năm (ứng với câu trên, hối lạp là ngày cuối tháng và cuối năm). Hiệu 號: Tiếng gào la do oán hận. Td. Bi hiệu tuyệt trung trường悲號絕中腸 [Lý Bạch 李白, Bắc thượng hành 北上行] (Đau đớn gào lên đứt ruột) [tuyệt trung trường: đoạn trường 斷腸].

28. Thế 涕: Nước mũi. Tỵ thế 鼻涕 (hỉ mũiThoá 唾: Nước miếng, phun nước miếng. Thoá mạ 唾罵 (chưởi mắng và nhổ nước bọt vào mặt ai). Niệu 溺: Chữ này nguyên nghĩa là nịch (chìm đắm). Nịch tử 溺死 (chết chìm), nịch ái 溺愛 (yêu say đắm), nịch tín 溺信 (tin tưởng mù quáng). Sắc bất ba đào dị nịch nhân 色不波濤易溺人 (Sắc đẹp đàn bà tuy không có sóng mà dễ làm nam nhi phải đắm chìm). Nhưng 溺 còn đọc là niệu, đồng nghĩa với niệu 尿 (nước tiểu, tiểu tiện). Đối bắc thế thóa cập niệu: Day về hướng bắc mà hỉ mũi, khạc nhổ, và tiểu tiện. Cổ nhân xem hướng bắc là nơi cư trú của Ngọc Thần Lão Quân 玉晨老君, nên ta không day về hướng đó làm chuyện uế tạp (Chú thích của Trung Hoa Đạo Học Thông Điển).

29. Bát tiết: Theo Hứa Chỉ Tịnh chú, bát tiết là bốn lập, hai phân, và hai chí. Đó là những ngày mà chư thần tra lục tội lỗi thế nhân 四立,二分.二至叫八節.這是諸神錄人罪過之日. Trung Hoa Đạo Học Thông Điển chú: bát tiết là lập xuân, xuân phân, lập hạ, hạ chí, lập thu, thu phân, lập đông, đông chí. Cổ nhân bảo những ngày ấy phải trai giới, làm chuyện phước thiện. Như vậy, đó là 8 tiết (tiết khí) trong 24 tiết khí của một năm. Bát tiết hành hình: Thi hành hình phạt vào những ngày bát tiết (nhằm các ngày dương lịch là 5/2, 20/3, 5/5, 21/6, 7/8, 23/9, 7/11, và 21/12).

30. Lưu tinh 流星: Sao băng, sao xẹt 從空中落下來的星球.

31. Hồng 虹: Cầu vồng có 7 màu: đỏ 紅, cam 橙, vàng 黃, lục 綠, lam 藍, chàm 靛, tím 紫 xuất hiện sau cơn mưa. Có hai loại: Chính hồng 正虹 (màu đỏ ngoài, màu tím trong) và phó hồng 副虹 (màu tím ngoài, màu đỏ trong). Phó hồng cũng gọi là nghê 霓.

32. Triếp 輒: Thường thường. Tam quang 三光: Nhật, nguyệt, tinh. Cửu thị 久視: Nhìn lâu.

33. Liệu 燎: Phóng hỏa đốt rừng 放燒草木. Lạp 獵: Săn bắn.

DỊCH ĐIỀU 6

(86) Chôn bùa ếm hại người, (87) Dùng thuốc để hại cây cối, (88) Oán giận thầy dạy chữ và dạy nghề, (89) Xung đột với cha và anh, (90) Lấy ngang cướp đoạt của ai, (91) Thích xâm lấn chiếm đoạt của ai, (92) Cướp bóc để trở nên giàu có, (93) Xảo trá cầu thăng quan tiến chức, (94) Thưởng phạt không công bằng, (95) Dâm dật hưởng lạc không kiềm chế, (96) Hà khắc ngược đãi thuộc hạ, (97) Đe dọa ai làm cho họ phải sợ, (98) Oán trời hận người, (99) Mắng gió chưởi mưa, (100) Tranh đấu kiện tụng, (101) Kéo bè kết đảng để làm điều quấy, (102) Nghe lời vợ mà không nghe lời dạy của cha mẹ, (103) Có mới nới cũ, (104) Miệng nói phải, lòng nói trái, (105) Tham lam mạo nhận tiền của, (106) Khinh thường, khuất lấp đối với bề trên, (107) Nói lời ác độc, (108) Gièm siểm người khác, (109) Hại người, tự cho mình ngay thẳng, (110) Chưởi rủa thần thánh, tự xưng mình ngay thẳng, (111) Bỏ thuận theo nghịch, (112) Phản bội thân thuộc, đi theo người ngoài, (113) Chỉ trời chỉ đất để làm chứng cho lòng dạ xấu xa, (114) Gọi thần minh chứng giám cho việc quấy, (115) Trước tặng cho người, sau hối tiếc, (116) Mượn vay không trả, (117) Cầu mong quá phận mình, (118) Cố hết sức mưu cầu phú quý, (119) Dâm dục quá mức, (120) Lòng dạ sâu hiểm nhưng bề ngoài ra vẻ hiền lành, (121) Đưa thức ăn dơ cho người ăn, (122) Dùng bàng môn tả đạo để bịp đời, (123) Dùng thước non thước thiếu để đo đạc cho người, (124) Cân nhẹ, thăng non, (125) Lấy sự gian trá làm hỗn loạn chân lý, (126) Tuyển chọn gian lợi, (127) Đè nén người lương thiện để họ nghèo mạt, (128) Khinh khi gạt gẫm kẻ khờ khạo, (129) Tham lam khống biết chán, (130) Trước thần linh thề láo cho mình là ngay thẳng, (131) Ham nhậu nhẹt quậy phá, (132) Anh em ruột thịt giận nhau tranh giành nhau, (133) Trai không trung lương, (134) Gái không nhu thuận, (135) Chồng bỏ bê nhà cửa, (136) Vợ không biết trọng chồng, (137) Thích kiêu căng khoác lác, (138) Thường ganh ghét đố kỵ, (139) Chồng không đức hạnh đối với vợ con, (140) Vợ không lễ phép với cha mẹ chồng, (141) Khinh thường tổ tiên đã khuất, (142) Vi phạm mệnh lệnh của bề trên, (143) Làm chuyên tầm phào vô ích, (144) Âm thầm sinh lòng khác, (145) Rủa mình, rủa người, (146) Ghét yêu thiên vị, (147) Bước qua giếng và bếp lò, (148) Nhảy qua thức ăn, nhảy qua thân mình người khác, (149) Tổn hại con cái, phá thai, (150) Hành vi ám muội, (151) Ngày cuối tháng, cuối năm ca múa, (152) Ngày đầu tháng đầu năm khóc la giận hờn, (153) Day về hướng bắc khóc, hỉ mũi, khạc nhổ, tiểu tiện, (154) Trước ông Táo ngâm vịnh, khóc lóc, hoặc đốt nhang trong bếp lò, (155) Củi dơ nấu ăn, (156) Đêm tối loã lồ, (157) Ngày bát tiết thi hành hình phạt, (158) Khạc nhổ về phía sao băng, (159) Tay chỉ cầu vồng, (160) Thường chỉ trỏ nhật nguyệt tinh, (161) Nhìn lâu mặt trời mặt trăng, (162) Mùa xuân đốt rừng săn bắn, (163) Day về hướng bắc chưởi rủa độc địa, (164) Không có lý do mà đánh giết rắn rùa.

GIẢI ĐIỀU 6

Điều 6 hợp với điều 5 có tổng cộng 164 việc ác tiêu biểu mà con người thường phạm phải. Thật sự việc ác trên đời có thiên hình vạn trạng nào phải chỉ có 164 việc được nêu ở đây. Tuy việc ác như thế nào, hậu quả của nó vẫn là ác báo được nêu ở điều 7 kế tiếp. Mở đầu điều 5 và 6 có chữ Cẩu hoặc 苟或 (nếu như có người…), và mở đầu điều 7 có chữ Như thị đẳng tội 如是等罪 (Nếu như có những tội ấy thì…) để lập lại ý chính ở điều 5 và 6. Phân tích như vậy ta mới nhìn ra sự liền lạc giữa các điều. Đọc đến đây ta ắt hẳn phải giật mình vì tự xét thấy mình bấy lâu đã phạm tội ít nhiều. Để tránh những ác báo, ta cần sám hối ăn năn và tự sửa chữa. Biết lỗi mà không sửa chữa (tri quá bất cải 知過不改) cũng là một lỗi vậy.

7. 惡 報 ÁC BÁO

如 是 等 罪, 司 命 隨 其 輕 重, 奪 其 紀 算. 算 盡 則 死. 死 有 餘 責, 乃 殃 及 子 孫. 又 諸 橫 取 人 財 者, 乃 計 其 妻 子 家 口當 之, 漸 至 死 喪, 若 不 死 喪 則 有 水火 盜 賊, 遺 忘 器 物, 疾 病 口 舌 諸 事, 以 當 妄 取 之 直. 又 枉 殺 人 者, 是 易 刀 兵 而 相 殺也. 取 非 義 之 財 者, 譬 如 漏 脯 救 饑, 鴆 酒 止 渴, 非 不 暫 飽 死 亦 及之.

Như thị đẳng tội,1 Tư Mệnh2 tùy kỳ khinh trọng, đoạt kỳ kỷ toán. Toán tận tắc tử. Tử hữu dư trách,3 nãi ương4 cập tử tôn. Hựu chư hoạnh5 thủ nhân tài giả, nãi kếkỳ thê tử gia khẩu đang chi, tiệm chí tử tang, nhược bất tử tang, tắc hữu thuỷ hỏa đạo tặc, di vong khí vật,7 tật bệnh khẩu thiệt chư sự, dĩ đang vọng thủ chi trực. 8 Hựu uổng sát9 nhân giả, thị dịch đao binh nhi tương sát dã.10 Thủ phi nghĩa chi tài giả, thí như lậu phụ cứu cơ,11 trấm tửu12 chỉ khát, phi bất tạm bão, tử diệc cập chi.

TỪ NGỮ

1. Như thị 如是: Như thử 如此 (như vậy, như thế). Như thị đẳng tội: Các tội như thế (nêu ở điều 5 và 6).

2. Tư Mệnh 司命: Ông Táo, Táo quân.

3. Trách 責: Trách phạt 責罰, trừng phạt 懲罰.

4. Ương 殃: Tai ương 災殃 họa hại 禍害. Thành ngữ: Họa quốc ương dân 禍國殃民 (Quốc gia và nhân dân bị tai ương họa hại).

5. Hoạnh 橫: Cậy thế lực mà làm ngang, áp bức người khác (uy thế bức thủ 威勢逼取); Hung bạo không đếm xỉa đạo lý (hung bạo bất giảng lý 凶暴不講理). Đồng nghĩa với man 蠻, nên hay nói man hoạnh 蠻橫 (ngang ngược man rợ). Chữ này cũng đọc là hoành (ngang), phản nghĩa của tung 縱 (dọc).

6. Kế 計: Tính toán cho, đăng ký cho. Kế kỳ thê tử gia khẩu dĩ đang chi: Tính toán cho vợ con và người trong gia đình phải gánh chịu.

7. Di 遺: Rơi mất (di thất 遺失). Td. Tề Hoàn Công ẩm tửu túy di kỳ quán 齊桓公飲酒醉遺其冠 [Hàn Phi Tử 翰非子, Nan tam 難三] (Tề Hoàn Công uống rượu say rơi mất mũ).

8. Trực 直: (1) Ngay thẳng. (2) Giá trị 價值. Td. Thang tử, gia sản trực bất quá ngũ 湯死家產直不過無百金 [Sử Ký 史記, Trương Thang truyện 張湯傳] (Thang chết, gia sản trị giá không quá 500 tiền vàng). Vọng thủ 妄取: Hoạnh thủ 橫取 (cướp đoạt ngang ngược). Dĩ đang vọng thủ chi trực: Để làm cái giá phải trả cho sự cướp đoạt ngang ngược.

9. Uổng 枉: (1) Cong vẹo (loan khúc 彎曲, phản nghĩa của trực).(2) Oan uổng 冤枉, oan khuất 冤屈. Uổng sát 枉殺 (giết oan). Td. Nhữ hưu uổng sát nam phi hồng 汝休枉殺南飛鴻 [Đỗ Phủ 杜甫, Tuế Án hành 歲晏行] (Ngươi đừng giết oan con hồng nhạn đang bay về phương nam).

10. Dịch 易: Đồng nghĩa với hoán 換 là trao đổi. Theo Vương Lực [sđd. tr. 340], ngày xưa không có chữ hoán, ý nghĩa chữ hoán (trao đổi) của ngày nay thì ngày xưa đều nói là dịch (上古沒有換字, 現代換的意義上古都說易). Td. Dĩ vật dịch vật 以物易物 (lấy hàng đổi hàng: barter). Dịch tử nhi thực 易子而食 [Tả Truyện, Ai Công bát niên 哀公八年] (Đổi con cho nhau mà ăn thịt). [Trung Quốc cổ đại đông dân mà nghèo đói, người ta đành đổi con cho nhau mà ăn thịt]. Thị dịch đao binh nhi tương sát dã: Chính là trao đổi đao binh với nhau mà giết nhau vậy.

11. Thí như 譬如: Ví dụ như. Lậu 漏: Rò rỉ, dột. Cùng lư lậu ốc 窮閭漏屋 (ngõ cụt, nhà dột). Phụ 脯 (cũng đọc là phổ, bô): Thịt khô (lộc phụ 鹿脯: khô nai), mứt trái cây (quả phụ 果脯).Phụ cũng giống như lạp nhục 臘肉 (thịt ướp muối phơi khô để dành ăn vào tháng chạp hoặc mùa đông 臘月或冬天醃制的肉). Lậu phụ: Thịt khô để nơi nhà dột, ngấm nước nên rất độc (脯是肉干被漏屋水浸了便有毒).

12. Trấm 鴆: Theo truyền thuyết, có một loài chim độc thích ăn thịt rắn, lông nó màu xanh tía. Khi rượu bị nhúng lông chim trấm vào, sẽ thành rượu độc (trấm tửu) có thể giết người. Theo Sơn Hải Kinh 山海經 [phần Trung tây kinh 中西經], trên núi Nữ Kỷ 女幾 có nhiều ngọc, dưới núi có nhiều vàng, ngoài ra còn có chim trĩ và chim trấm. Trấm có nghĩa rộng là dùng rượu đầu độc người 用毒酒害人. Td. Sử y trấm chi 使醫鴆之 [Quốc Ngữ 國語, Lỗ ngữ thượng 魯語上] (Sai thầy lang dùng rượu đầu độc hắn). Lã Bất Vi tự độ sảo xâm, khủng tru, nãi ẩm trấm nhi tử 呂不韋自度稍侵恐誅乃飲鴆而死 [Sử Ký 史記, Lã Bất Vi liệt truyện 呂不韋列傳] (Lã Bất Vi biết rồi đây sẽ bị hại dần, sợ bị giết, bèn uống rượu độc mà chết).

DỊCH ĐIỀU 7

Như những tội ấy, thần Tư Mệnh tùy theo nặng nhẹ mà bớt tuổi thọ của kẻ gây tội. Tuổi thọ hết thì chết, nhưng nếu chết mà chưa hết tội thì con cháu sẽ gánh chịu tai ương. Lại như có kẻ cướp giật ngang ngược tiền tài của người khác thì vợ con và toàn gia đình hắn cũng gánh chịu, dần dần cho đến chết; nếu không chết thì cũng bị tai họa nước lửa hoặc trộm cướp, mất mát đồ vật, tật bệnh, mắc lời ăn tiếng nói, v.v. coi như là cái giá phải trả cho thói cướp giật ngang ngược. Lại có kẻ giết oan người khác rồi đây cũng bị giết trở lại giống như đổi gươm giáo mà giết nhau. Còn kẻ ôm giữ tiền của phi nghĩa, giống như dùng thịt độc và rượu độc để khỏi đói khát, chẳng no lòng tí nào mà cái chết thì cận kề vậy.

GIẢI ĐIỀU 7

Điều 7 diễn giải sự ác báo, là hậu quả của những việc ác đã nêu ở điều 5 và 6. Ở đây ác báo không chỉ ảnh hưởng đến kẻ gây ác mà còn ảnh hưởng đến vợ con và người thân trong gia đình nữa. Có lẽ chúng ta cho rằng sự trả giá đó thật là quá bất công. Nhưng ta nên hiểu rằng tất cả những ai có liên hệ với nhau (quen biết hoặc cùng huyết thống) đều bị ràng buộc chằng chịt trong mối duyên nghiệp vay trả bao đời. Người đời hay nói không oan gia thì không gặp nhau. Gặp để trả nợ lẫn nhau trong kiếp này hay trong tiền kiếp. Do đó, một sự cố xảy ra với người này, tất nhiên sẽ tác động ít nhiều đến nhiều người khác. Cái ác thì thiên hình vạn trạng, bình thường khi làm một điều gì, ta không nghĩ đó là ác nên mới ra tay. Khi hiểu ra, có ăn năn thì sự đã rồi. Tuy nhiên, có một cách thức để nhìn ra một điều ác. Đó là câu nói của Khổng Tử: Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân (Điều gì mình không muốn người ta làm cho mình thì mình đừng làm cho họ). Nghĩa là phải đặt mình vào hoàn cảnh của người tiếp nhận hành vi thì mới phán đoán được hành vi đó là thiện hay ác.

8. 指微 CHỈ VI 1

夫 心 起 於 善, 善 雖 未 為 而 吉 神 已 隨 之. 或 心 起 於 惡, 惡 雖 未 為 而 凶 神已 隨 之.

Phù2 tâm khởi ư thiện, thiện tuy vị vi3 nhi cát thần4 dĩ tùy chi. Hoặc tâm khởi ư ác, ác tuy vị vi nhi hung thần dĩ tùy chi.

TỪ NGỮ

1. Chỉ vi: Hai chữ này khác biệt trong các bản kinh. Bản của Cao Đài Chiếu Minh dịch là «Ấy là điều thứ 8», bản của Thánh Thất Tân Định «Là điều thứ tám sửa mình thiện lương». Hiểu như vậy chữ Hán tương ứng là 只為 (Chỉ vi: chỉ là). Tuy nhiên đó không phải là nhan đề thích hợp, so với các điều còn lại. Bản của Lý Lạc Cầu 李樂俅 (Tiên Học Diệu Tuyển 仙學妙選) dùng chữ Chỉ vi 指微 (chỉ ra cho thấy điều tế vi), thiết nghĩ đây mới là nhan đề thích hợp của điều 8. Điều tế vi được nêu ra đây là gì? Ta sẽ thấy trong phần dịch và giải dưới đây.

2. Phù 夫: Là một ngữ khí từ, đặt đầu câu, báo hiệu sắp nghị luận điều gì; nếu đặt cuối câu, báo hiệu cảm thán. Td. Phù chiến dũng khí dã 夫戰勇氣也 [Tả Truyện 左傳, Trang Công thập niên 庄公十年] (Phàm đánh nhau là có dũng khí vậy). Bi phù! 悲夫 (Buồn thay!). Phù đặt đầu câu thường được dịch ra tiếng việt là: «phàm», «nói chung là» hoặc không cần dịch gì cả.

3. Vi 為: Làm. Mạnh Thường Quân vi tướng sổ thập niên 孟嘗君為相數十年 [Chiến Quốc Sách 戰國策, Tề sách 齊策] (Mạnh Thường Quân làm tướng vài chục năm).

4. Cát thần 吉神: Thiện thần 善神 (thần thiện), trái với hung thần 凶神 hay ác thần 惡神 (thần ác).

DỊCH ĐIỀU 8

Hễ tâm dấy khởi một điều thiện (thiện niệm) thì tuy điều thiện chưa làm nhưng thiện thần đã đi theo mình rồi. Hoặc tâm dấy khởi một điều ác (ác niệm) thì tuy điều ác chưa làm nhưng ác thần đã đi theo mình rồi.

GIẢI ĐIỀU 8

Ở đây nói rất rõ về luật cảm ứng, nếu có cảm tất có ứng. Tất cả tội lỗi chúng ta qui về ba loại: thân- khẩu -ý. Trong ba loại này, tội lỗi do ý nghĩ là quan trọng nhất. Tư tưởng dẫn đến ngôn ngữ và hành động. Vọng tưởng khởi, sinh vọng ngữ hoặc/và vọng động. Vì thế, một niệm của ta nảy sinh, thì thần thiện hoặc ác đã ở sát bên ta, sẵn sàng ra tay. Người tu do đó cần kiểm soát lấy bản thân ngay từ trong tư tưởng: Không nghĩ điều quấy (tư vô tà 思無邪). Trong nhà tối vắng cũng không dễ khinh nhờn (bất khi ám thất 不欺暗室). Ngồi giữa nhà khép kín cũng thể ngồi giữa ngã tư đường có người qua kẻ lại (tọa mật thất như thông cù 坐密室如通衢).

9. 悔 過 HỐI QUÁ

其 有 曾 行 惡 事, 後 自 改 悔, 諸 惡 莫 作, 眾 善 奉 行, 久 久 必 獲 吉 慶, 所 謂 轉 禍 為 福 也.

Kỳ hữu tằng hành ác, hậu tự cải hối,1 chư ác mạc2 tác, chúng thiện phụng hành,3 cửu cửu tất hoạch cát khánh,4 sở vị chuyển họa vi phúc dã.

TỪ NGỮ

1. Hối 悔: Ăn năn về việc đã làm (hối hận 悔恨, áo hối 懊悔, hối quá 悔過). Td. Hối chi dĩ vãn 悔之已晚 (hối hận thì đã muộn). Hối còn một nghĩa cổ xưa, là tai họa (trái nghĩa với cát 吉).Cải hối: Hối hận và sửa chữa.

2. Mạc 莫: Chớ, đừng (tương đương 不要 và 不能 trong Hán ngữ hiện đại). Mạc tác: Chớ làm, đừng làm.

3. Chúng 眾: Tất cả, mọi thứ 一般的. Chúng thiện: Tất cả những việc thiện. Phụng 奉: Tuân theo (tuân thủ 遵守). Td. Cẩn phụng pháp lệnh 謹奉法令 [Sử Ký 史記, Lý Tư liệt truyện 李斯列傳] (Cẩn thận tuân theo pháp lệnh). Phụng hành: Tuân theo luật lệ mà hành động.

4. Hoạch 獲: Có được, thu hoạch. Cát khánh 吉慶: Sự tốt đẹp.

DỊCH ĐIỀU 9

Đã từng làm ác mà sau đó tự hối cải, không làm mọi điều ác nữa, (tuân theo luật nhân quả) làm mọi điều thiện. Được thế, lâu ngày ắt có sự tốt lành. Đó gọi là chuyển họa thành phúc vậy.

GIẢI ĐIỀU 9

Điều 9 nhấn mạnh tác dụng của ăn năn sám hối. Biết mình tội lỗi và sửa chữa là một phương cách đổi hoạ thành phúc. Còn như biết tội lỗi mà cứ cố tiếp tục, không biết sửa đổi (tri quá bất cải 知過不改) thì đó cũng là một tội, và như thế tội lỗi càng ngày càng chồng chất và ác báo tất nhiên càng thêm nhiều.

10. 律 定 LUẬT ĐỊNH

故 吉 人 語 善, 視 善, 行 善, 一 日 有 三 善, 三 年 天 必 降 之 福. 凶 人 語 惡, 視 惡, 行 惡, 一 日 行 三 惡, 三 年 天 必 降 之 禍. 胡 不 勉 而 行 之.

Cố,1 cát nhân2 ngứ thiện,3 thị thiện, hành thiện, nhất nhật hữu tam thiện, tam niên thiên tất giáng chi phúc. Hung nhân ngứ ác, thị ác, hành ác, nhất nhật hành tam ác, tam niên thiên tất giáng chi họa. Hồ 4 bất miễn5 nhi hành chi?

TỪ NGỮ

1. Cố 故: Vậy nên, do đó (thị dĩ 是以, thị cố 是故, nhân thử 因此, sở dĩ 所以).

2. Cát nhân 吉人: Thiện nhân, trái với hung nhân (ác nhân).

3. Ngứ 語: Nói. Chữ này danh từ đọc là ngữ (ngữ ngôn), động từ đọc là ngứ. Trong mạch văn, thi và hành là động từ, do cấu trúc song song (parallelism), chữ 語 phải đọc là ngứ. Td. Thực bất ngứ, tẩm bất ngôn 食不語寢不言 [Luận ngữ 論語, Hương đảng 鄉党] (Khi ăn và khi ngủ đều không nói). Ngứ thiện: Nói điều thiện.

4. Hồ 胡: Tại sao 為什麼. Td. Điền viên tương vu hồ bất qui 田園將蕪胡不歸 [Đào Tiềm 陶潛, Qui khứ lai từ 歸去來辭] (Ruộng vườn sắp hoang vu, tại sao không trở về đi?).

5. Miễn 勉: Cố gắng (tận lực 盡力, nỗ lực 努力). Td. Nguyện tử miễn vi quả nhân trị chi 愿子勉為寡人治之 [Hàn Phi Tử 韓非子, Ngoại trừ thuyết tả hạ 外儲說左下] (Mong sao khanh vì quả nhân mà cố gắng lo liệu việc ấy).

DỊCH ĐIỀU 10

Vậy cho nên, người hiền lành nói điều lành, xem điều lành, và làm điều lành. Mỗi ngày làm ba điều lành thì ba năm trời ban phúc cho. Còn người ác nói điều ác, xem điều ác, và làm điều ác. Mỗi ngày làm ba điều ác thì ba năm trời giáng họa cho. Tại sao lại không cố gắng mà làm điều lành đi?

GIẢI ĐIỀU 10

Điều 10 tổng kết lại toàn bộ kinh: Rằng nhân thiện thì quả thiện (thiện báo), nhân ác thì quả ác (ác báo). Sau cùng, kinh khuyên bảo mọi người phải gắng sức hành thiện.

LỜI TỰA

Khổng Lão Phu Tử là một nhà giáo dục cũng là một vị thầy vĩ đại, đối với văn hóa của Trung Quốc có sức ảnh hưởng rất sâu. Tư tưởng của Ngài lưu truyền cho đến nay đã khắp trên thế giới. Ngài tin sâu nền giáo dục đạo đức, kỷ luật và phẩm đức là nền tảng giáo dục của nhi đồng, từ lúc nhỏ thì đã thực hành trong cuộc sống hằng ngày của thời thơ ấu. Không giống như hiện nay cha mẹ phản đối xử phạt, thời xưa ở Trung Quốc các bậc cha mẹ còn cảm ơn và khích lệ thầy giáo trách phạt khi con cái của họ không ngoan. Vào thời xưa các bậc cha mẹ đều nghĩ rằng, trước hết phải đắp nền tảng đạo đức phẩm hạnh cho con cái của mình cho đàng hoàng, sau đó mới có thể tiến thêm một bước học tập những khoa mục khác. Nếu không có đắp nền tảng đạo đức phẩm hạnh cho đàng hoàng, mà học tập những khoa mục khác thì cũng uổng công. Mục đích sự cầu học của cổ nhân là chí tại Thánh Hiền, vì muốn phục vụ cho nhân dân, không vì danh văn lợi dưỡng.

Mấy ngàn năm nay, quyển sách nhỏ này là tiêu chuẩn của người làm học trò, cũng là sự chỉ dẫn đạt đến hạnh phúc mỹ mãn của đời người. Nếu theo tiêu chuẩn này dùng trong thời đại hiện nay thì hình như rất nghiêm khắc, nhưng cổ nhân nghĩ rằng từ thuở nhỏ phải có kỷ luật và tu dưỡng phẩm đức, đó mới là điều quan trọng. Nếu không có kỷ luật và tu dưỡng phẩm đức thì khi con cái lớn lên sẽ không có thành tựu. Thí như nói nếu trẻ em từ nhỏ không biết hiếu thuận cha mẹ và không biết tôn kính sư trưởng, sau khi con cái trưởng thành thì làm sao biết được tuân theo lễ phép. Hiện nay trong gia đình không phải là con cái nghe lời cha mẹ, mà là cha mẹ phải nghe lời con cái. Thầy giáo cũng không dám dạy dỗ và xử phạt học sinh, bởi vì thầy giáo sợ trái với nhân quyền nhi đồng dưới sự bảo vệ của pháp luật, cũng sợ bị cha mẹ của học sinh tố cáo.

Con người sanh trong thời đại loạn thế, mối quan hệ giữa người với người, mối quan hệ giữa người và hoàn cảnh, mối quan hệ giữa con cái và cha mẹ, mối quan hệ giữa vợ và chồng, mối quan hệ giữa quân và thần (người lãnh đạo và người bị lãnh đạo) đã hoàn toàn tan rã. Cha mẹ không giống cha mẹ, con cái không giống con cái.Giữa người với người không còn chú trọng luân lý đạo đức. Tâm lý của chúng ta bị ô nhiễm bởi hoàn cảnh. Chế độ gia đình của chúng ta đã bị phá vỡ. Tình trạng ly dị đã đạt đến mức độ cao. Địa cầu đã bị ô nhiễm bởi hoàn cảnh, cũng có thể rất mau thì không thích hợp cho nhân loại sinh sống. Làm bậc cha mẹ và thầy giáo đối với tương lai đời sau của con em mình đều cảm thấy lo âu. Hy vọng quyển sách nhỏ này có thể cung cấp cho mọi người làm tham khảo để làm phương châm chỉ dẫn cho chúng ta hầu mong giúp được tương lai đời sau đạt đến thế giới xã hội hòa bình.  Vào thời xưa ở Trung Quốc coi trọng phái nam, chỉ có con trai mới có thể đi học. Vì vậy trong quyển sách nhỏ này có rất nhiều danh từ đều dùng cho phái nam. Thế nhưng đối với xã hội hiện nay, quyển sách nhỏ này rất thích hợp cho tất cả các em nhi đồng cũng bao gồm cả phái nam và phái nữ đều có thể học tập.

Ban phiên dịch Tịnh Tông Học Viện Úc Châu

( CON ĐƯỜNG ĐẠT ĐẾN HẠNH PHÚC NHÂN SINH )

TỔNG TỰA

ĐỆ TỬ QUY. THÁNH NHÂN HUẤN. THỦ HIẾU ĐẠO. THỨ CẨN TÍN.
Đệ tử quy. Thánh nhân dạy. Trước hiếu thuận. Sau cẩn tín.

Dịch nghĩa: Quyển sách Đệ Tử Quy này là lời dạy của cổ thánh tiền hiền Trung Quốc. Trước hết là dạy cho chúng ta phải hiếu thuận với cha mẹ và tôn kính thương yêu anh em chị em của chúng ta. Sau đó dạy cho chúng ta trong cuộc sống hằng ngày đối xử với người, đối xử với việc, đối xử với vật phải làm sao giữ cho tâm mình luôn luôn cẩn thận, phải làm thế nào để cho mọi người tin tưởng chúng ta. Chúng ta cũng tin tưởng lời dạy của cổ thánh tiên hiền.

PHIẾM ÁI CHÚNG, NHI THÂN NHÂN. HỮU DƯ LỰC, TẮC HỌC VĂN.
Thương chúng sanh, học đạo đức. Có dư thời, siêng học tập.

Dịch nghĩa: Kế đến là dạy cho chúng ta phải bình đẳng thương yêu tất cả chúng sanh. Phải thân cận với những vị có lòng nhân từ và đức hạnh, đi theo họ học tập. Trước hết chúng ta nhất định phải làm hết trách nhiệm bổn phận của mình. Nếu còn có dư thời gian và sức lực, lại tiến thêm một bước nghiên cứu học tập nghệ thuật văn học, để nâng cao phẩm chất cuộc sống tinh thần của mình.

NHẬP TẮC HIẾU

Chương thứ nhất

(Ở nhà hiếu thuận với cha mẹ)

PHỤ MẪU HÔ, ỨNG VẬT HOÃN. PHỤ MẪU MẠNG, HÀNH VẬT LÃN.
Cha mẹ gọi, lập tức vâng. Cha mẹ sai, phải làm ngay.

Dịch nghĩa: Khi cha mẹ gọi chúng ta, thì chúng ta phải lập tức trả lời. Cha mẹ sai bảo chúng ta làm việc gì, chúng ta phải tức khắc làm ngay.

PHỤ MẪU GIÁO, TU KÍNH THÍNH. PHỤ MẪU TRÁCH, TU THUẬN THỪA.
Cha mẹ dạy, cung kính nghe. Cha mẹ trách, phải thừa nhận.

Dịch nghĩa: Đối với lời dạy của cha mẹ, chúng ta phải cung kính lắng nghe.

Khi cha mẹ quở trách, thì chúng ta phải thật sự thừa nhận và phải nỗ lực tự sửa đổi hết.

ĐÔNG TẮC ÔN, HẠ TẮC SẢNH. THẦN TẮC TỈNH, HÔN TẮC ĐỊNH.
Lạnh làm ấm, nóng làm mát. Sáng quan tâm, tối an lòng.

Dịch nghĩa: Mùa đông chúng ta phải làm thế nào cho thân thể của cha mẹ được ấm áp, mùa hè phải làm cho được mát mẻ. Mỗi ngày buổi sáng chúng ta phải vấn an cha mẹ, tức là chúng ta tỏ ra quan tâm cha mẹ, buổi tối chúng ta phải để cho cha mẹ ngủ được ngon giấc.

XUẤT TẤT CÁO, PHẢN TẤT DIỆN. CƯ HỮU THƯỜNG, NGHIỆP VÔ BIẾN.
Đi cho hay, về cho biết. Ở cố định, không đổi nghề.

Dịch nghĩa: Khi chúng ta muốn ra khỏi nhà, trước hết phải thưa với cha mẹ để cho cha mẹ biết chúng ta đi đâu, bởi vì cha mẹ lúc nào cũng lo lắng con cái của mình. Sau khi về đến nhà thì liền gặp cha mẹ để cho cha mẹ biết chúng ta đã về rồi. Cũng là khiến cho cha mẹ được yên tâm. Chỗ ở của chúng ta phải cố định, cuộc sống của chúng ta phải có quy cũ. Làm việc cũng phải nhẫn nại vững bền, không nên tuỳ ý thay đổi ý chí của mình.

SỰ TUY TIỂU, VẬT THIỆN VI. CẨU THIỆN VI, TỬ ĐẠO KHUY.
Việc không hợp, chẳng nên làm. Nếu đã làm, thì bất hiếu.

Dịch nghĩa: Tuy là một việc nhỏ, nếu không hợp tình không hợp lý, thì mình không nên làm. Nếu như đã làm, tức là bất hiếu. Bởi vì cha mẹ không muốn thấy con cái của mình làm việc không hợp tình, không hợp lý, không hợp pháp.

VẬT TUY TIỂU, VẬT TƯ TÀNG. CẨU TƯ TÀNG, THÂN TÂM THƯƠNG.
Vật tuy nhỏ, không tự cất. Nếu tự cất, cha mẹ buồn.

Dịch nghĩa: Đồ vật tuy nhỏ, không nên tự mình cất giấu để làm của riêng. Nếu tự mình cất giấu đồ vật này, khi cha mẹ biết được thì nhất định sẽ rất đau lòng.

THÂN SỞ HIẾU, LỰC VI CỤ. THÂN SỞ Ố, CẨN VI KHỨ.
Cha mẹ thích, tận lực làm. Cha mẹ ghét, phải trừ bỏ.

Dịch nghĩa: Cha mẹ ưa thích những chuyện hợp tình, hợp lý, hợp pháp, thì chúng ta phải tận tâm tận lực vì cha mẹ làm cho tốt đẹp. Trong phạm vi hợp lý, nếu như đối với người, đới với việc, đới với vật làm cho cha mẹ chán ghét, thì chúng ta phải hết lòng cẩn thận trừ bỏ ngay.

THÂN HỮU THƯƠNG, DI THÂN ƯU. ĐỨC HỮU THƯƠNG, DI THÂN TU.
Thân bị thương, cha mẹ lo. Đức hạnh kém, cha mẹ tủi.

Dịch nghĩa: Nếu thân thể của chúng ta bị thương, thì cha mẹ sẽ lo âu. Nếu đức hạnh của chúng ta không tốt, thì cha mẹ cũng cảm thấy tủi hổ.

THÂN ÁI NGÃ, HIẾU HÀ NAN. THÂN TĂNG NGÃ, HIẾU PHƯƠNG HIỀN.
Cha mẹ thương, dễ hiếu thuận. Cha mẹ ghét, vẫn hiếu kính.

Dịch nghĩa: Nếu cha mẹ thương yêu chúng ta thì chúng ta hiếu thuận cha mẹ không khó. Nhưng nếu cha mẹ chán ghét chúng ta, chúng ta vẫn phải hiếu thuận cha mẹ, đó mới là phù hợp cái hạnh tiêu chuẩn hiếu thuận của thánh hiền.

THÂN HỮU QUÁ, GIÁN SỬ CANH. DI NGÔ SẮC, NHU NGÔ THANH.
Cha mẹ lỗi, phải cố khuyên. Tỏ ra vui, lời nhu hòa.

Dịch nghĩa: Khi cha mẹ có lỗi lầm, chúng ta phải hết lòng khuyên bảo họ sửa lỗi. Lúc chúng ta khuyên cha mẹ sửa lỗi, nên tỏ ra thái độ dịu dàng, lời nói phải nhu hòa.

GIÁN BẤT NHẬP, DUYỆT PHỤC GIÁN. HIỆU KHẤP TÙY, THÁT VÔ OÁN.
Khuyên không được, vẫn phải khuyên. Thì nên khóc, đánh không giận.

Dịch nghĩa: Nếu cha mẹ không tiếp nhận chúng ta khuyên bảo, chúng ta phải có tâm nhẫn nại đợi khi tâm trạng của cha mẹ vui vẻ thì chúng ta lại đến khuyên họ. Nếu cha mẹ vẫn không chịu tiếp nhận lời khuyên, chúng ta cũng có thể dùng phương cách đau lòng đến khóc để khiến cho cha mẹ biết sửa lỗi. Cho dù có bị cha mẹ mắng hay đánh đi nữa, tâm chúng ta cũng không bao giờ có oán trách họ.

THÂN HỮU TẬT, DƯỢC TIÊN THƯỜNG. TRÚ DẠ THỊ, BẤT LY SÀNG.
Cha mẹ bịnh, nếm thuốc trước. Thường chăm sóc, không lìa khỏi.

Dịch nghĩa: Khi cha mẹ có bịnh, chúng ta sắc thuốc xong phải nếm trước. Chúng ta sớm hôm chăm sóc cha mẹ cho đàng hoàng, không được lìa khỏi họ.

TÁNG TAM NIÊN, THƯỜNG BI YẾT. CƯ XỨ BIẾN, TỬU NHỤC TUYỆT.
Tang ba năm, nhớ ơn mãi. Không vui chơi, tiệc ăn uống.

Dịch nghĩa: Sau khi cha mẹ vãng sanh, nhất định phải để tang cha mẹ 3 năm, chúng ta phải thường nhớ công ơn nuôi dưỡng của cha mẹ mà cảm thấy đau lòng xót xa. Trong thời gian để tang cha mẹ, chúng ta phải xếp đặt trong nhà cho có không khí thương tiếc, không nên tham gia những cuộc vui chơi ăn uống linh đình.

TÁNG TẬN LỄ, TẾ TẬN THÀNH. SỰ TỬ GIẢ, NHƯ SỰ SANH.
Trọng tang lễ, lòng thành kính. Đối người mất, như sanh tiền.

Dịch nghĩa: Tang lễ của cha mẹ, chúng ta phải làm đúng theo nghi lễ, đến ngày cúng giỗ, chúng ta phải dùng tâm chí thành cúng tế cha mẹ. Chúng ta phụng thờ cha mẹ đã vãng sanh cũng phải cung kính như lúc họ còn sống không khác.

XUẤT TẮC ĐỆ

Chương thứ hai

( Nguyên tắc tiêu chuẩn của người làm em lúc ra ngoài )

HUYNH ĐẠO HỮU, ĐỆ ĐẠO CUNG. HUYNH ĐỆ MỤC, HIẾU TẠI TRUNG.
Anh thương em, em biết kính. Anh em hòa, là hiếu kính.

Dịch nghĩa: Làm anh phải thương mến các em của mình, các em cũng biết kính trọng anh của mình. Anh em chị em có thể sống chung hòa thuận, đó là hiếu kính cha mẹ.

TÀI VẬT KHINH, OÁN HÀ SANH. NGÔN NGỮ NHẪN, PHẨN TỰ MẪN.
Coi nhẹ tiền, thì không oán. Lời nhịn nhường, diệt oán hận.

Dịch nghĩa: Khi anh em chị em hiểu được coi trọng tình nghĩa hơn cả tài vật, bỉ thử không vì tranh giành tài vật mà sanh lòng oán hận. Nếu bỉ thử biết cẩn thận lời nói, có tâm nhẫn nại, có thể bao dung nhịn nhường, thì lòng oán hận sẽ tự nhiên tiêu mất.

HOẶC ẨM THỰC, HOẶC TỌA TẨU. TRƯỞNG GIẢ TRÊN, ẤU GIẢ HẬU.
Lúc ăn uống, ngồi hay đi. Nhường người lớn, ta theo sau.

Dịch nghĩa: Bất luận lúc ăn uống, hoặc là ngồi hay đi. Chúng ta phải nhường cho người lớn trước, người trẻ đi theo sau.

TRƯỞNG HÔ NHÂN, TỨC ĐẠI KHIẾU. NHÂN BẤT TẠI, KỶ TỨC ĐÁO.
Người lớn gọi, giúp gọi dùm. Nếu không có, liền cho hay.

Dịch nghĩa: Khi bậc trưởng bối gọi người, chúng ta nghe được thì phải lập tức đi gọi dùm. Nếu người không ở đó, thì liền trở về báo cho họ biết, đợi xem bậc trưởng bối có sai bảo gì không, chúng ta phải hết lòng giúp đở cho họ.

XƯNG TÔN TRƯỞNG, VẬT HÔ DANH. ĐỐI TÔN TRƯỞNG, VẬT KIẾN NĂNG.
Kính người lớn, không gọi tên. Trước người lớn, không khoe tài.

Dịch nghĩa: Y theo cổ lễ của Trung Quốc, cách xưng hô đối với bậc trưởng bối không được gọi tên của họ. Ở trước mặt bậc trưởng bối, không nên tự mình khoe khoang tài năng.

LỘ NGỘ TRƯỞNG, TẬT XU ẤP. TRƯỞNG VÔ NGÔN, THOÁI CUNG LẬP.
Gặp người lớn, phải kính chào. Người chưa nói, đứng cung kính.

Dịch nghĩa: Chúng ta đang đi trên đường gặp bậc trưởng bối quen biết, thì phải mau đến cung kính chào hỏi. Nếu trưởng bối không nói điều gì với chúng ta, thì chúng ta lui đứng một bên cung kính để cho họ đi qua.

KỴ HẠ MÃ, THỪA HẠ XA. QUÁ DO ĐÃI, BÁ BỘ DƯ.
Liền xuống ngựa, phải xuống xe. Đến thăm hỏi, rồi mới đi.

Dịch nghĩa: Khi chúng ta đang cỡi ngựa đi trên đường, mà gặp bậc trưởng bối quen biết, chúng ta phải xuống ngựa đến cung kính chào hỏi. Nếu chúng ta đang ngồi trên xe ngựa, thì phải dừng xe lại, xuống xe đến chào hỏi, sau đó mời họ lên xe, đưa họ muốn đến nơi nào. Chúng ta trên đường đi gặp bậc trưởng bối quen biết đang đi đến, chúng ta phải cung kính đứng một bên chờ. Đợi khi nào họ đi xa rồi thì chúng ta mới có thể quay mình đi.

TRƯỞNG GIẢ LẬP, ẤU VẬT TỌA. TRƯỞNG GIẢ TỌA, MẠNG NÃI TỌA.
Người lớn đứng, ta không ngồi. Người lớn ngồi, ta mới ngồi.

Dịch nghĩa: Khi bậc trưởng bối còn đang đứng, chúng ta không được ngồi xuống. Phải đợi sau khi họ ngồi xuống, họ bảo chúng ta ngồi thì chúng ta mới ngồi.

TÔN TRƯỞNG TIỀN, THANH YẾU ĐÊ. ĐÊ BẤT VĂN, KHƯỚC PHI NGHI.
Khi nói chuyện, tiếng nhỏ nhẹ. Nếu quá nhỏ, thì không rõ.

Dịch nghĩa: Khi chúng ta nói chuyện với bậc trưởng bối, lời nói phải nhỏ nhẹ. Nếu quá nhỏ thì nghe không rõ, phải nói rõ ràng không lớn không nhỏ.

TIẾN TẤT XU, THOÁI TẤT TRÌ. VẤN KHỞI ĐỐI, THỊ VẬT DI.
Khi gặp mặt, lúc rời khỏi. Đang trả lời, phải nhìn thẳng.

Dịch nghĩa: Khi đi gặp trưởng bối phải đi mau một tí, đến lúc cáo từ thì phải chậm một tí lui ra. Khi trưởng bối có hỏi, chúng ta trả lời mắt phải nhìn thẳng vào trưởng bối.

SỰ CHƯ PHỤ, NHƯ SỰ PHỤ. SỰ CHƯ HUYNH, NHƯ SỰ HUYNH.
Kính chú bác, như cha mẹ. Anh em họ, như ruột thịt.

Dịch nghĩa: Chúng ta đới xử với chú bác của mình, phải cung kính đối xử như cha mẹ của mình vậy. Đối xử với anh em họ bên nội và bên ngoại, cũng như đối xử với anh em ruột của mình vậy.

CẨN

Chương thứ ba

( Phải cẩn thận hành vi trong cuộc sống hằng ngày )

TRIỀU KHỞI TẢO, DẠ MIÊN TRÌ. LÃO DỊ CHÍ, TÍCH THỬ THỜI.
Thức dậy sớm, tối ngủ trễ. Khi tuổi già, quí thời gian.

Dịch nghĩa: Mỗi ngày buổi sáng chúng ta phải thức dậy sớm hơn cha mẹ, buổi tối phải đợi cho cha mẹ ngủ trước thì chúng ta mới đi ngủ. Khi chúng ta phát giác thời gian đã trôi qua không bao giờ trở lại, mỗi năm so với một năm cảm thấy mau già, thì nên biết trân quí thời gian trước mắt của chúng ta.

THẦN TẤT QUÁN, KIÊM THẤU KHẨU. TIỆN NỊCH HỒI,TIẾP TỊNH THỦ.
Sáng rửa mặt, phải đánh răng. Vệ sinh rồi, liền rửa tay.

Dịch nghĩa: Mỗi buổi sáng sau khi thức dậy, trước hết phải rửa mặt và đánh răng. Sau khi đại tiểu tiện xong phải liền rửa tay sạch sẽ.

QUÁN TẤT CHÁNH, NỮU TẤT KẾT. MIỆT DỮ LÝ, CÂU KHẨN THIẾT.
Mũ ngay ngắn, gài nút kỹ. Mang giầy vớ, phải chỉnh tề.

Dịch nghĩa: Đội mũ nhất định đội cho ngay ngắn, mặc áo gài nút phải đàng hoàng, mang giầy vớ cũng chỉnh tề.

TRÍ QUÁN PHỤC, HỮU ĐỊNH VỊ. VẬT LOẠN ĐỐN, TRÍ Ô UẾ.
Mũ quần áo, đặt cố định. Không lẫn lộn, tránh dơ bẩn.

Dịch nghĩa: Mũ và quần áo phải để một nơi cố định. Không nên lẫn lộn, để tránh dể làm dơ bẩn quần áo và đồ vật.

Y QUÝ KHIẾT, BẤT QUÝ HOA. THƯỢNG TUẦN PHẦN, HẠ XƯNG GIA.
Quần áo sạch, không cần đắt. Hợp thân phận, hợp tập quán.

Dịch nghĩa: Mặc quần áo phải sạch sẽ, áo đắt tiền không quan trọng. Ăn mặc phải thích hợp cho địa vị và thân phận của mình, ở nhà mặc theo hợp với truyền thống tập quán.

ĐỐI ẨM THỰC, VẬT GIẢN TRẠCH. THỰC THÍCH KHẢ, VẬT QUÁ TẮC.
Khi ăn uống, đừng chọn lựa. Ăn vừa no, chớ quá nhiều.

Dịch nghĩa: Đối với việc ăn uống, không nên kén chọn. Phần ăn vừa đủ, không nên ăn quá no.

NIÊN PHƯƠNG THIẾU, VẬT ẨM TỬU. ẨM TỬU TÚY, TỐI VI XÚ.
Lúc còn trẻ, không uống rượu. Uống rượu say, rất xấu xa.

Dịch nghĩa: Chúng ta tuổi còn trẻ, không nên học uống rượu. Uống rượu say, thì hình tướng vô cùng xấu xa.

BỘ TÙNG DUNG, LẬP ĐOAN CHÁNH. ẤP THÂM VIÊN, BÁI CUNG KÍNH.
Đi thong thả, đứng đoan nghiêm. Lúc vái chào, phải cung kính.

Dịch nghĩa: Chúng ta đi chân bước thong thả, khoan thai vững vàng, lúc đứng thân thể đoan trang ngay thẳng. Lúc vái chào thân thể phải cúi sát, lúc lễ bái phải cung kính.

VẬT TIỄN VỰC, VẬT BẢ Ỷ. VẬT KY CỨ, VẬT DIÊU BỆ.
Qua ngạch cửa, đừng nghiêng mình. Ngồi không duỗi, không run đùi.

Dịch nghĩa: Khi đến nhà người khác, chân không nên đạp lên ngạch cửa, lúc đứng thân thể không nên nghiêng về một bên. Lúc ngồi hai chân không nên dạng ra hoặc duỗi ra, cũng không run đùi.

HOÃN YẾT LIÊM, VẬT HỮU THANH. KHOAN CHUYỂN LOAN, VẬT XÚC LĂNG.
Khi kéo màn, không tiếng động. Đi trong phòng, phải chú ý.

Dịch nghĩa: Lúc kéo màn cửa phải chậm rãi nhẹ nhàng, không nên tạo ra tiếng động. Lúc đi trong nhà phải để cho mình có đủ khoảng trống, khi quay mình có thể tránh khỏi đụng chạm vào những góc cạnh.

CHẤP HƯ KHÍ, NHƯ CHẤP DOANH. NHẬP HƯ THẤT, NHƯ HỮU NHÂN.
Bưng đồ vật, phải cẩn thận. Vào nhà trống, như có người.

Dịch nghĩa: Khi bưng đồ nhẹ trong tay (bình bông không có nước), phải chú ý cẩn thận như bưng đồ nặng không khác. Chúng ta đi vào nhà trống, phải nghĩ rằng cũng có người đang ở trong nhà.

SỰ VẬT MANG, MANG ĐA THÁC. VẬT ÚY NAN, VẬT KHINH LƯỢC.
Lúc làm việc, không hấp tấp. Đừng sợ khó, không coi thường.

Dịch nghĩa: Lúc làm việc không nên vội vàng hấp tấp. Hễ hấp tấp thì tránh không khỏi sai lầm. Đối với những công việc khó khăn không nên sợ làm không được, nhưng cũng không nên nghĩ rằng công việc rất dễ làm mà coi thường nó, rồi làm qua loa cho xong chuyện.

ĐẤU NÁO TRƯỜNG, TUYỆT VẬT CẬN. TÀ PHÍCH SỰ, TUYỆT VẬT VẤN.
Chỗ tranh cãi, đừng đến gần. Chuyện thị phi, không nên hỏi.

Dịch nghĩa: Những chỗ tranh cãi hoặc đánh nhau chúng ta phải lánh xa. Những chuyện thị phi tà ác tuyệt đối không hỏi không nghe (giữ cho tâm thanh tịnh).

TƯƠNG NHẬP MÔN, VẤN THỤC TỒN. TƯƠNG THƯỢNG ĐƯỜNG, THANH TẤT DƯƠNG.
Đến nhà người, phải hỏi trước. Bước vào nhà, cho người biết.

Dịch nghĩa: Khi đến cổng nhà của người ta, trước hết chúng ta phải hỏi trong nhà có ai không. Muốn bước vào trong nhà, chúng ta phải cất tiếng lớn để cho người trong nhà biết có khách đến.

NHÂN VẤN THÙY, ĐỐI DĨ DANH. NGÔ DỮ NGÃ, BẤT PHÂN MINH.
Nếu người hỏi, liền xưng tên. Thưa là tôi, cho rõ ràng.

Dịch nghĩa: Nếu người trong nhà có hỏi thì chúng ta liền cho biết tên của mình. Thưa là tôi phải trả lời cho rõ ràng, nếu không thì họ không biết chúng ta là ai.

DỤNG VẬT NHÂN, TU MINH CẦU. THẢNH BẤT VẤN, TỨC VI THÂU.
Dùng đồ người, phải hỏi trước. Nếu không hỏi, thành trộm cắp.

Dịch nghĩa: Chúng ta muốn mượn đồ của người khác để dùng, trước tiên nhất định phải được sự đồng ý của họ cho mượn. Nếu chúng ta không hỏi mà tự lấy dùng, thì cũng như trộm cắp không khác.

TÁ NHÂN VẬT, CẬP THỜI HOÀN. HẬU HỮU CẤP, TÁ BẤT NAN.
Mượn đồ vật, phải nhớ trả. Sau có cần, mượn không khó.

Dịch nghĩa: Chúng ta mượn đồ vật của người khác, phải nhớ hoàn trả cho đúng ngày. Sau này nếu có cần đến, thì mượn lại sẽ không khó.

TÍN

Chương thứ tư

( Phải làm một người đáng được cho người khác tin )

PHÀM XUẤT NGÔN, TÍN VI TIÊN. TRÁ DỮ VỌNG, HỀ KHẢ YÊN.
Khi nói năng, trước tín nhiệm. Không lừa gạt, không nói dối.

Dịch nghĩa: Khi chúng ta nói chuyện, trước tiên phải lấy chữ tín làm đầu. Làm sao có thể nói lời lừa gạt gian trá vọng ngữ được sao?

THOẠI THUYẾT ĐA, BẤT NHƯ THIỂU. DUY KỲ THỊ, VẬT NỊCH XẢO.
Nói nhiều lời, không bằng ít. Phải nói thật, không nói giả.

Dịch nghĩa: Nói nhiều lời, không bằng nói ít vài câu. Phải nói lời chân thật, không nên bóp méo sự thật.

GIAN XẢO NGỮ, UẾ Ô TỪ. THỊ TỈNH KHÍ, THIẾT GIỚI CHI.
Nói gian trá, lời dơ bẩn. Tập khí xấu, phải trừ bỏ.

Dịch nghĩa: Lời nói gian trá xảo quyệt, là lời dơ bẩn của kẻ lưu manh tiểu nhân bất lương. Đó là tập khí không tốt, nhất định phải trừ bỏ.

KIẾN VỊ CHÂN, VẬT KHINH NGÔN. TRI VỊ ĐÍCH, VẬT KHINH TRUYỀN.
Tự không thấy, không nên nói. Chưa hiểu rõ, đừng tuyên truyền.

Dịch nghĩa: Nếu không phải chính mắt mình trong thấy, không nên vội vàng nói cho người khác biết. Khi chưa chắc chắn hiểu rõ sự việc, đừng nên vội vàng tuyên truyền cho mọi người biết.

SỰ PHI NGHI, VẬT KHINH NẶC. CẨU KHINH NẶC, TIẾN THOÁI THÁC
Việc không tốt, đừng nhận lời. Nếu nhận lời, thì sai lầm.

Dịch nghĩa: Ta cảm thấy việc này không tốt thì đừng nhận lời. Nếu ta nhận lời, làm cũng sai không làm cũng sai.

PHÀM ĐẠO TỰ, TRỌNG THẢ THƯ. VẬT CẤP TẬT, VẬT MƠ HỒ.
Lúc nói năng, chỗ chủ yếu. Đừng nói nhanh, phải rõ ràng.

Dịch nghĩa: Lúc nói năng đến chỗ chủ yếu, phải nói cho rõ ràng minh bạch. Không nói quá nhanh, cũng không nói mơ hồ không rõ.

BỈ THUYẾT TRƯỜNG, THỬ THUYẾT ĐOẢN. BẤT QUÁN KỶ, MẠC NHÀN QUẢN.
Kẻ nói dài, người nói ngắn. Không quan hệ, không xen vào.

Dịch nghĩa: Người khác nói chuyện thị phi, nếu không có liên quan với mình thì không nên xen vào.

KIẾN NHÂN THIỆN, TỨC TƯ TỀ. TUNG KHỨ VIỄN, DĨ TIỆM TÊ.
Người hành thiện, ta học theo. Dù kém xa, cố theo kịp.

Dịch nghĩa: Nhìn thấy người làm việc thiện, chúng ta phải lập tức học theo họ. Cho dù chúng ta vẫn còn kém họ rất xa, nhưng bây giờ chúng ta bắt đầu dần dần sẽ theo kịp họ.

KIẾN NHÂN ÁC, TỨC NỘI TỈNH. HỮU TẮC CẢI, VÔ GIA CẢNH.
Kẻ hành ác, ta phản tỉnh. Có thì sửa, càng cảnh giác.

Dịch nghĩa: Chúng ta nhìn thấy kẻ khác tạo tác ác nghiệp, tự mình phải biết phản tỉnh. Nếu chúng ta có phạm lỗi lầm như vậy, thì liền cải chính, còn như không có chúng ta vẫn phải đề cao cảnh giác.

DUY ĐỨC HỌC, DUY TÀI NGHỆ. BẤT NHƯ NHÂN, ĐƯƠNG TỰ LỆ.
Hạnh đạo đức, và tài nghệ. Không bằng người, phải nổ lực.

Dịch nghĩa: Nếu như đạo đức, phẩm hạnh, học vấn và tài năng của chúng ta không bằng người, thì chúng ta phải tự khích lệ cố gắng cải tiến.

NHƯỢC Y PHỤC, NHƯỢC ẨM THỰC. BẤT NHƯ NHÂN, VẬT SANH THÍCH.
Nếu quần áo, việc ăn uống. Không bằng người, không nên buồn.

Dịch nghĩa: Còn như về quần áo và sự ăn uống của chúng ta không bằng người khác, không nên vì những thứ này mà sanh lòng buồn rầu xấu hổ.

VĂN QUÁ NỘ, VĂN DỰ LẠC. TỔN HỮU LAI, ÍCH HỮU KHƯỚC.
Chê thì giận, khen thì vui. Kẻ xấu đến, bạn tốt xa.

Dịch nghĩa: Như có người phê bình chúng ta, thì ta liền nổii giận. Lại có người khen ngợi chúng ta, thì ta cảm thấy vui mừng. Như vậy thì bạn xấu sẽ tìm đến, bạn tốt thì xa lìa chúng ta.

VĂN DỰ KHỦNG, VĂN QUÁ HÂN. TRỰC LƯƠNG SĨ, TIỆM TƯƠNG CẬN.
Khen thì sợ, phê thì vui. Người đạo đức, đến thân cận.

Dịch nghĩa: Như có người khen ngợi chúng ta, thì ta liền lo sợ. Khi nghe người khác phê bình, ngược lại ta cảm thấy vui mừng. Những người có đạo đức học vấn họ thành thật thông cảm chúng ta, cũng sẽ dần dần đến thân cận chúng ta.

VÔ TÂM PHI, DANH VI THÁC. HỮU TÂM PHI, DANH VI ÁC.
Vô ý phạm, cũng là sai. Cố ý phạm, là tạo ác.

Dịch nghĩa: Nếu ta vô ý đã phạm lỗi lầm, đó là một lỗi lầm. Nhưng nếu ta cố ý phạm, đó thì là tạo ác nghiệp.

QUÁ NĂNG CẢI, QUY Ư VÔ. THẢNG YỂM SỨC, TĂNG NHẤT CÔ.
Nếu sửa lỗi, thì hết tội. Hể che giấu, càng thêm tội.

Dịch nghĩa: Nếu ta đã phạm lỗi lầm mà biết sửa lỗi không tái tạo, thì tội nghiệp không còn nữa. Còn nếu ta đã phạm lỗi lầm mà không chịu thừa nhận, lại còn che giấu lỗi lầm của mình, thì tội nghiệp càng nặng thêm.

PHIẾM ÁI CHÚNG

Chương thứ năm

( Bình đẳng thương yêu tất cả chúng sanh )

PHÀM THỊ NHÂN, GIAI TU ÁI. THIÊN ĐỒNG PHÚC, ĐỊA ĐỒNG TẢI.
Phàm là người, đều phải thương. Chung một cõi, một địa cầu.

Dịch nghĩa: Chúng ta cùng là con người, không phân quốc gia, chủng tộc, tôn giáo, đều phải bình đẳng thương yêu lẫn nhau. Chúng ta nhờ có bầu trời che chở, cùng sống chung trên quả địa cầu này.

HẠNH CAO GI Ả, DANH TỰ CAO. NHÂN SỞ TRỌNG, PHI MẠO CAO.
Người đạo đức, có tiếng tâm. Được coi trọng, không bởi tướng.

Dịch nghĩa: Những người mà có lý tưởng cao thượng đức hạnh vẹn toàn, dĩ nhiên là danh vọng của họ tự nhiên cao cả. Được mọi người kính trọng, không phải do tướng mạo tốt xấu bề ngoài của họ.

TÀI ĐẠI GIẢ, VỌNG TỰ ĐẠI. HÂN SỞ PHỤC, PHI NGÔN ĐẠI.
Người xuất chúng, danh vọng lớn. Mọi người phục, không khoác lác.

Dịch nghĩa: Những người có tài năng xuất chúng thì danh vọng của họ tự nhiên lớn. Mọi người đều kính nể phục tùng, họ tuyệt không có khoác lác.

KỶ HỮU NĂNG, VẬT TỰ TƯ. NHÂN HỮU NĂNG, VẬT KHINH TÍ.
Có khả năng, đừng ích kỹ. Người khác giỏi. không hủy báng.

Dịch nghĩa: Nếu tự mình có khả năng tài cán, khả năng tài cán của mình không nên dùng để hưởng thụ riêng, phải đem nó phục vụ cho quần chúng. Nếu khả năng tài cán của người khác giỏi hơn mình, cũng không nên khinh thường hủy báng họ.

VẬT SIỂM PHÚ, VẬT KIÊU BẦN. VẬT YỂM CỐ, VẬT HỶ TÂN.
Không nịnh giàu, không khinh nghèo. Không bỏ bạn, tìm bạn mới.

Dịch nghĩa: Chúng ta không nịnh hót những người giàu có, cũng không khinh thường kẻ bần cùng khốn khổ. Không nên chán bỏ bạn cũ, chỉ thích giao du với bạn mới.

NHÂN BẤT NHÀN, VẬT SỰ GIẢO. NHÂN BẤT AN, VẬT THOẠI NHIỄU.
Người đang bận, đừng quấy nhiễu. Người không yên, không làm phiền.

Dịch nghĩa: Khi người khác đang bận việc, không nên đến làm quấy nhiễu họ. Hoặc là trong lòng họ không được yên, chúng ta không nên nói những gì khiến cho họ càng thêm buồn phiền.

NHÂN HỮU ĐOẢN, THIẾT MẠC YẾT. NHÂN HỮU TƯ, THIẾT MẠC THUYẾT.
Khuyết điểm người, đừng bươi móc. Chuyện riêng tư, không nên nói.

Dịch nghĩa: Khuyết điểm của người khác chúng ta đừng bươi móc. Chuyện riêng tư của họ không muốn cho ai biết thì chúng ta không nên nói ra.

ĐẠO NHÂN THIỆN, TỨC THỊ THIỆN. NHÂN TRI CHI, DŨ TƯ MIỄN.
Khen làm lành, đó là thiện. Người khác biết, càng khích lệ.

Dịch nghĩa: Chúng ta khen ngợi người khác làm việc thiện, tức là tự mình đã làm việc thiện. Người khác biết được bởi lời khen của mình thì họ càng cố gắng thêm làm việc thiện.

DƯƠNG NHÂN ÁC, TỨC THỊ ÁC. TẬT CHI THẬM, HỌA THẢ TÁC.
Nói người ác, là việc ác. Tổn hại nhiều, tự chuốc lấy.

Dịch nghĩa: Chúng ta tuyên truyền người khác làm việc ác, tức là tự mình đã làm việc ác. Nếu chúng ta chỉ trích họ quá đáng làm cho họ tổn hại nặng nề, ngược lại tự mình chuốc lấy tai họa.

THIỆN TƯƠNG KHUYẾN, ĐỨC GIAI KIẾN. QUÁ BẤT QUY, ĐẠO LƯỠNG KHUY.
Khuyên hướng thiện, hành đạo đức. Nếu không khuyên, thì sai lầm.

Dịch nghĩa: Chúng ta khuyến khích mọi người làm việc thiện, bỉ thử đều có thể xây dựng đức hạnh tốt đẹp. Bạn bè có lỗi lầm, nếu chúng ta không khuyên bảo họ, thì đức hạnh của chúng ta và bạn bè đều khiếm khuyết.

PHÀM THỦ DƯ, QUÝ PHÂN HIỂU. DƯ NGHI ĐA, THỦ NGHI THIỂU.
Cho hoặc lấy, phải rõ ràng. Cho ra nhiều, lấy vào ít.

Dịch nghĩa: Bất luận là lấy hoặc là cho, phải phân minh rõ ràng. Tài vật cho người khác phải bố thí nhiều, còn mình nhận lấy tài vật của người khác thì nên ít hơn một tí.

TƯƠNG GIA NHÂN, TIÊN VẤN KỶ. KỶ BẤT DỤC,TỨC TỐC DĨ.
Ta cầu người, trước hỏi mình. Mình không muốn, không nên cầu.

Dịch nghĩa: Chúng ta có việc muốn nhờ người khác làm, trước tiên phải tự hỏi mình, mình tức là họ, có bằng lòng giúp hay không. Nếu mình không muốn làm thì chúng ta không nên đến cầu người làm.

ÂN DỤC BÁO, OÁN DỤC VONG. BÁO OÁN ĐOẢN, BÁO ÂN TRƯỜNG.
Muốn báo ơn, phải quên oán. Báo oán ngắn, báo ơn dài.

Dịch nghĩa: Chúng ta thọ ơn của người khác, nhất định phải luôn nhớ đáp đền. Còn như họ đã kết oán thù với chúng ta, chúng ta phải xóa bỏ quên hết. Mối oán thù không nên kéo dài thời gian càng ngắn càng tốt, còn lòng thọ ơn đáp đền phải lâu dài.

ĐÃI TÌ BỘC, THÂN QUÝ ĐOAN. TUY QUÝ ĐOAN, TỪ NHƯ KHOAN.
Đối đầy tớ, phải nghiêm trang. Tuy nghiêm trang, nhưng hiền hòa.

Dịch nghĩa: Đối xử với những người làm trong nhà, tự mình phải có phẩm cách đoan chánh. Phẩm cách đoan chánh rất quan trọng, đối xử với họ phải có lòng độ nhân hậu.

THẾ PHỤC NHÂN,TÂM BẤT NHIÊN. LÝ PHỤC NHÂN, PHƯƠNG VÔ NGÔN.
Cậy quyền thế, họ không phục. Dùng lý khuyên, họ mới phục.

Dịch nghĩa: Nếu chúng ta cậy quyền thế cưỡng ép người khác phải tuân theo mình, tuy bề ngoài họ không dám cãi lời, nhưng tâm họ không phục. Nên dùng đạo lý để cảm hóa họ thì mới khiến cho họ tâm phục khẩu phục, không oán trách chúng ta.

THÂN NHÂN

 Chương thứ sáu

(Thân cận người có đức hạnh và nhân từ theo họ học tập)

ĐỒNG THỊ NHÂN, LOẠI BẤT TỀ. LƯU TỤC CHÚNG, NHÂN GIẢ HI.
Đồng con người, khác tánh tình. Phàm phu nhiều, nhân từ hiếm.

Dịch nghĩa: Chúng ta tuy cũng là con người, nhưng sự khác biệt tánh tình của con người không đồng. Hạng phàm phu tục tử thì rất nhiều, còn người có đạo đức phẩm hạnh thì rất hiếm hoi.

QUẢ NHÂN GIẢ, NHÂN ĐA ÚY. NGÔN BẤT HÚY, SẮC BẤT MỊ.
Người nhân đức, mọi người kính. Họ không dối, không nịnh hót.

Dịch nghĩa: Người thật sự có đạo đức phẩm hạnh, thì được mọi người cung kính. Họ không bao giời nói dối, cũng không bao giờ nịnh hót kẻ khác.

NĂNG THÂN NHÂN, VÔ HẠN HẢO. ĐỨC NHẬT TIẾN, QUÁ NHẬT THIỂU.
Được thân cận, rất lợi ích. Tăng đức hạnh, ít lỗi lầm.

Dịch nghĩa: Nếu chúng ta được thân cận với người có đạo đức phẩm hạnh, chúng ta theo họ học tập sẽ được sự lợi ích vô cùng. Đức hạnh của chúng ta mỗi ngày tự nhiên tiến bộ, lỗi lầm của chúng ta mỗi ngày cũng sẽ giảm thiểu.

BẤT THÂN NHÂN, VÔ HẠN HẠI. TIỂU NHÂN TIẾN, BÁ SỰ HOẠI.
Không thân cận, sẽ tai hại. Tiểu nhân đến, phá hoại nhiều.

Dịch nghĩa: Nếu chúng ta không chịu thân cận với người có đạo đức phẩm hạnh thì chúng ta sẽ bỏ mất cơ hội là điều vô cùng tai hại. Kẻ tiểu nhân sẽ đến gần với chúng ta, đến lúc đó chúng ta muốn làm việc gì cũng không được thành tựu.

DƯ LỰC VĂN HỌC

Chương thứ bảy

(Công việc bổn phận của mình đã làm xong,
lại nên nghiên cứu học tập văn học nghệ thuật,
để nâng cao phẩm chất cuộc sống tinh thần
 của mình)

BẤT LỰC HÀNH, ĐẢN HỌC VĂN. TRƯỞNG PHÙ HOA, THÀNH HÀ NHÂN.
Không thực hành, Chỉ biết học. Không thật chất, thành người gì.

Dịch nghĩa: Chúng ta đã học Hiếu, Để, Cẩn, Tín, Phiếm Ái Chúng và Thân Nhân mà không nổ lực thực hành, chỉ biết nghiên cứu văn học. Như vậy thì không thật chất, làm sao trở thành một người hữu dụng.

ĐẢN LỰC HÀNH, BẤT HỌC VĂN. NHÂM KỶ KIẾN, MUỘI LÝ CHÂN.
Chỉ thực hành, không học tiếp. Tự tin mình, thì không hiểu.

Dịch nghĩa: Còn nếu chúng ta chỉ chú trọng về mặt thực hành mà không chịu nghiên cứu học tập thêm, chỉ nhờ vào kiến giải của mình cho là đúng, vậy thì chúng ta đối với chân tướng sự thật không thấu hiểu.

ĐỌC THƯ PHÁP, HỮU TAM ĐÁO. TÂM NHÃN KHẨU, TÍN GIAI YẾU.
Cách đọc sách, phải tập trung. Tâm mắt miệng, tín quan trọng.

Dịch nghĩa: Phương cách đọc sách nhất định phải tập trung vào ba điểm. Phải chú tâm, mắt xem, miệng đọc, đối với lời dạy của thánh hiền, chúng ta phải tin sâu mà y giáo phụng hành, điều này rất quan trọng.

PHƯƠNG ĐỌC THỬ, VẬT MỘ BỈ. THỬ VỊ CHUNG, BỈ VẬT KHỞI.
Khi đọc sách, đừng nghĩ khác. Chưa đọc xong, không đọc khác.

Dịch nghĩa: Khi chúng ta đọc quyển sách này, không nên nghĩ đến quyển sách khác. Hoặc là chưa đọc xong quyển sách này, lại muốn đọc quyển sách khác, chúng ta đọc sách nhất định phải đọc từ đầu đến cuối.

KHOAN VI HẠN, KHẨN DỤNG CÔNG. CÔNG PHU ĐÁO, TRỆ TẮC THÔNG.
Thời gian dài, gắng dụng công. Công phu đủ, liền thông đạt.

Dịch nghĩa: Chúng ta học tập cần phải có thời gian dài là để chuẩn bị khi dụng công phải dốc hết toàn lực. Mãi cho đến công phu được thành thục, thì tự nhiên thông suốt tất cả.

TÂM HỮU NGHI, TÙY TRÁT KÝ. TỰU NHÂN VẤN, CẦU XÁC NGHĨA.
Có nghi hoặc, phải ghi chú. Gặp người hỏi, cầu giải thích.

Dịch nghĩa: Chúng ta học tập nếu trong tâm có nghi vấn, thì phải lập tức ghi chú. Xin thỉnh giáo với người có học vấn, cầu họ giải thích một cách chính xác.

PHÒNG THẤT THANH, TƯỜNG BÍCH TỊNH. CƠ ÁN KHIẾT, BÚT NGHIỄN CHÁNH.
Phòng yên tịnh, tường vách sạch. Bàn ngay ngắn, bút mực gọn.

Dịch nghĩa: Trong phòng học phải yên tịnh, tường vách cũng phải giữ gìn cho sạch sẽ. bàn học của mình sắp đặt ngay ngắn, bút mực phải để cho gọn gàng.

MẶC MA BIẾN, TÂM BẤT ĐOAN. TỰ BẤT KÍNH, TÂM TIÊN BỊNH.
Cây mực nghiên, tâm không chánh. Chữ viết thảo, tâm không định.

Dịch nghĩa: Người thời xưa muốn viết chữ phải mài mực, nếu cây mực chỉ mài nghiên một bên, thì biết được tâm của họ không đoan chánh. Chữ viết ngoái quá, thì tâm không được định.

LIỆT ĐIỂN TỊCH, HỮU ĐỊNH XỨ. ĐỌC KHÁN TẤT, HOÀN NGUYÊN XỨ.
Phân kinh sách, cho thứ tự. Đọc sách xong, để chỗ cũ.

Dịch nghĩa: Kinh điển sách vở phải phân loại, sắp xếp theo thứ tự nơi vị trí cố định. Sau khi đọc sách xong phải để lại chỗ cũ.

TUY HỮU CẤP, QUYỂN THÚC TỀ. HỮU KHUYẾT HOẠI, TỰU BỔ CHI.
Dù có gấp, cũng xếp kỹ. Sách có rách, phải tu bổ.

Dịch nghĩa: Khi đang xem sách đột nhiên có việc gấp, nhưng cũng phải xếp lại để vào trong kệ sách cho ngay ngắn. Nếu thấy có chỗnào hư rách, thì phải lập tức tu bổ lại.

PHI THÁNH THƯ, BÍNH VẬT THỊ. TẾ THÔNG MINH, HOẠI TÂM CHÍ.
Sách vô ích, không xem đọc. Hại thông minh, hư tâm chí.

Dịch nghĩa: Nếu không phải là kinh sách của thánh hiền, tức là những loại sách chúng ta xem đọc không có lợi ích cho mình, đều phải vứt bỏ. Vì những loại sách đó sẽ làm hại thông minh trí huệ của chúng ta, cũng làm hư hoại ý chí hướng thượng của chúng ta.

VẬT TỰ BẠO, VẬT TỰ KHÍ. THÁNH DỮ HIỀN, KHẢ TUẦN TRÍ.
Đừng cam chịu, không thua kém. Thành thánh hiền, đều đạt được.

Dịch nghĩa: Chúng ta đừng cam chịu đọa lạc, cũng không thua kém. Chỉ cần thật sự y giáo phụng hành thì chúng ta cũng có thể thành bậc thánh hiền.

Hồi Hướng

Nguyện đem công đức này
Trang nghiêm Phật Tịnh Độ
Trên đền bốn ơn nặng
Dưới cứu khổ Tam Đồ
Nếu có người thấy nghe
Đều phát Tâm Bồ Đề
Hết một báo thân này
Đồng sanh về Cực Lạc

Nam Mô A Di Đà Phật !

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: