Nguyễn Trọng Tiến

Nếu chỉ còn một ngày để sống…

Những mẩu chuyện hay của Phật Giáo

Posted by NguyenTrongTien on 23/11/2011

Những mẩu chuyện hay của Phật Giáo sưu tầm từ trang web nhincuoi.com

Ðường Lầy

Có hai nhà sư cùng thong dong bước xuống một con đường lầy. Cơn mưa nặng hạt vẫn còn rơi. Ðến khúc đường quẹo, hai người gặp một cô gái xinh xắn trong chiếc áo Kimono và chiếc khăn quàng cổ bằng lụa, đang đứng bên lề đường vì không thể băng qua ngã tư đường lầy được. Lập tức một nhà sư bảo: “Ði nào, cô bé” tức khắc đưa tay nhấc bổng cô gái lên và đưa qua quãng đường lầy.
Nhà sư bạn của anh ta, từ đó không buồn nói một tiếng nào, cho đến khi cả hai dừng lại trong một ngôi chùa. Rồi không còn chịu đựng được nữa, nhà sư bạn lên tiếng nói với anh ta:
-Chúng ta là những nhà sư, không được phép gần đàn bà, nhất là với những người đàn bà trẻ đẹp. Nguy hiểm lắm! Sao anh lại làm như vậy?
Nhà sư mỉm cười:
-Tôi đã bỏ nàng từ chỗ đó rồi! Anh còn mang nàng theo đấy sao?
Phụ bản 2
Người Bốc Vác
Xưa, có hai thiền sư có việc phải hạ sơn. Trên đường đi đôi bạn gặp một thiếu nữ xinh xắn ngồi buồn rầu bên vệ đường. Chả là cô nàng muốn đi ăn cỗ cho sớm sủa mà lại bị một vũng nước to ngang đường chẹn mất lối đi.
Vị thiền sư trẻ tuổi liền bế cô qua đường. Sau lời cám ơn, đường ai nấy đi.
Buổi chiều, vừa về đến cổng tu viện, vị thiền sư lớn tuổi đã khiều tay bạn hỏi một cách bực dọc:
– Này chú … tại sao hồi sáng chú cả gan bế một thiếu nữ xinh đẹp thế kia qua vũng bùn mà không sợ ô nhiễm đến giới thể hử?
Vị thiền sư trẻ tuổi ngạc nhiên:
– Ô hay! Em đã đặt cô nàng xuống bên kia vệ đường rồi cơ mà! Sao Sư huynh còn cõng cô ta về tận nơi đây?Phụ chú:
Vác một cô nàng như thế từ sớm tới chiều thì kể cũng nặng thật!Xem thêm tại: http://www.nhincuoi.com/sach-online/lam-nguoi/nhung-mau-truyen-hay-cua-phat-giao-uong-lay-44425#ixzz1eX6Pb5OOBà Chúa Xứ

Thuở xưa, có một anh chàng xấu xí, con nhà nghèo, thất học, phải sinh sống bằng nghề khuân vác mướn ngoài chợ. Người ta gọi anh bằng “Thằng Bu”.
Bu làm việc siêng năng, giỏi giắn, nên cuộc sống của anh không lấy gì làm chật vật cho lắm. Có điều anh rất buồn, khi chung quanh chẳng có ai coi trọng, nể vì anh hết. Cũng như hầu hết mọi người, anh cũng thèm thuồng quyền uy, lòng ái mộ, khát ngưỡng của đồng loại. Mặt mũi anh đã không thuộc loại đẹp trai, anh lại không có một làn hơi thiên phú để ca vọng cổ hay tân nhạc nên anh không thể tiến thân bằng con đường văn nghệ. Anh lại tứ cố vô thân, không tiền của nên khó mà mua danh vọng chức tước. Chữ nghĩa thì lại chẳng bằng ai … Vậy thì phải làm cách nào cho thiên hạ ngán mình đây? Suy nghĩ suốt ngày đêm, chàng Bu chợt nảy ra một sáng kiến.
Một hôm, sau vài ly ba xi đế, Bu đến ngồi trước miễu bà Chúa Xứ, một vị thần không được thiêng cho lắm, nên nhang tàn khói lạnh, mỗi năm chỉ được người ta cúng cho một lần.
Bu đến trước cửa miễu, ngồi lắc lư, ợ ngáp liên hồi … ban đầu chỉ có bọn trẻ con tụ tập xung quanh anh, sau đó có các bà con vô công rồi nghề, dần dần có đến cả hội đồng bô lão của làng nữa. Người ta nhìn nhau thì thầm: “Bà về! Bà về”.
Vài mụ đàn bà góp ý, vàng hương hoa quả được mang đến, và chàng Bu nghiễm nhiên thành cái xác của bà Chúa Xứ. Từ đó, Bu không còn phải đi khuân thuê vác mướn nữa, người ta gọi anh bằng “Bà” bằng “Ngài” xúm xít cười vả lả để đón rước những lời nũng nịu, ỏng ẹo thoát ra từ đôi môi xám xịt của Bu. Anh mặc áo lụa, quần sa-teng trắng, đi hài cườm, thoa son phấn và đeo đồ trang sức.
Một tháng sau, Bu đã có vô số người ái mộ. Những kẻ trước kia chỉ dòm Bu bằng nửa con mắt, bây giờ lại kính cẩn lễ bái, đón nhận từng mệnh lệnh của anh. Người ta đến xin bùa phép của anh để mua may bán đắt, để được sanh con trai, con gái, đánh đề, đánh bạc, đua ngựa, đá gà, v.v … và v.v…
Bởi vì Phật và chư vị Bồ Tát thường ít khi chịu khó chiều lòng những tham vọng ấy của chúng sanh, thánh thần thì bận thưởng thiện phạt ác, ma quỷ thì đòi ăn hối lộ … Duy có Bu là không đòi hỏi gì hết, ngoài việc ước mong được thiên hạ chiều chuộng, tâng bốc, vuốt ve lòng tự ái của mình.
Ba tháng trôi qua … những cuộc lên đồng, cầu đảo bất kể ngày đêm đã khiến Bu xuống sắc rõ rệt. Lớp son phấn dầy cộm không che khuất đôi mắt đầy quầng đen. Càng đông người tín mộ, anh càng phải lên đồng thật xuất sắc. Anh không còn đủ thì giờ để ăn uống ngủ nghỉ. Những lúc mệt quá, anh cũng muốn nghỉ ngơi để trở lại đời sống bình thường của anh. Nhưng lúc ấy thì phải trở lại chấp nhận cái bản thân tầm thường thấp kém của anh Bu khuân thuê vác mướn, một điều mà anh muốn chối bỏ. Anh phải chịu đựng những ánh mắt lạnh nhạt, khinh bỉ … của người chung quanh, người ta sẽ lại gọi anh bằng “thằng”, bằng “mày”. Vì thế, dù mệt mỏi, anh phải đồng hóa mình với bà Chúa Xứ, một nhân vật do dân cư trong vùng lập ra và tôn thờ, chỉ ăn hương, uống hoa, sống bằng giọng đàn tiếng địch, cùng lời xưng tụng của người chung quanh.
Lời bàn:Em thân mến,
Số phận của anh chàng Bu này sẽ ra sao? Ðiều này hoàn toàn tùy thuộc vào nơi anh. Nếu Bu khám phá ra rằng chính mình là nạn nhân của trò chơi lên đồng ấy, rằng sau những lúc trà thiu rượu nhạt … anh cũng phải trở về đối mặt với con người của anh, một anh Bu tầm thường, vô danh tiểu tốt; nếu anh nhận thấy rằng, anh đang bày trò điên loạn; trong cảnh giới cuồng điên đó anh đã được sự tung hô tán tụng của người điên khác; và nhất là những tham vọng hão huyền đó cũng chẳng thú vị gì cho lắm, thì tại sao anh không trở về với anh Bu khuân vác thường ngày? Dù không được nể vì kính trọng của bàn dân thiên hạ, ít ra anh cũng còn có cái thế giới tỉnh táo chơn thật của một con người tầm thường và bình thường.
Mặt khác, nếu anh không thể nào chấp nhận con người chân thật của mình thì anh cứ bám vào cái vỏ của bà Chúa Xứ, bôi son trét phấn, hò hét, ban phúc giáng họa cho được đông người ái mộ. Tín đồ càng đông thì bà càng phải thiêng … Và nếu bà Chúa Xứ không còn hợp thời trang nữa thì anh có thể đổi danh hiệu thành bà Ngũ Hành – Cửu Thiên Huyền Nữ, hoặc là cô hay cậu nào đó. Nước đời lắm chìm, nhiều nổi, chúng ta chỉ có thể đoán chắc một điều là, giữa lớp danh vọng, hư huyễn, phù hoa đó, anh chàng Bu sẽ chết lần, chết mòn, thể xác mệt mỏi, tinh thần điên đảo … Nếu trò chơi cứ tiếp tục thì chung cuộc anh sẽ vào nhà thương dành cho bệnh tâm thần.
Em thân mến!
Câu chuyện trên đây, tôi đã đau xót viết cho riêng mình, nói với em, cũng có nghĩa là tôi độc thoại cho chính mình, vì tôi không tin tưởng rằng một cuộc đối thoại được thực sự cảm thông khi mà chúng ta mỗi người đang ngóng về một hướng, mãi miết đuổi bắt những lý tưởng tận đâu đâu …
Tôi chỉ muốn hỏi em, đã có những lúc nào em thấy mình giống hệt anh chàng Bu trên đây không? Riêng tôi, tôi còn nhớ rất rõ rằng, thuở bé thơ tôi rất là hồn nhiên, không rõ ràng mình là trai hay là gái, đẹp hay xấu, giàu hay nghèo, giỏi hay dở gì hết … Tôi sống thỏi mái và vô tư như một chú gà con, thì bổng nhiên, có lúc tôi nghe người chung quanh nhận xét rằng tôi không đẹp bằng chị tôi, không giàu bằng nhà hàng xóm, không giỏi bằng bạn bè chung quanh … và từ đó tôi dần dần bắt đầu cảm thấy thống khổ kịch liệt khi thấy sao mà mình tầm thường quá đỗi, không có một sở trường gì để tự “lăng xê” mình, làm nổi bật lên trước bàn dân thiên hạ. Rất nhiều đêm tôi niệm danh hiệu đức Quán Thế Âm, cầu mong sao cho mình được đẹp, được sang, được giỏi hơn thiên hạ. Mặt khác, tôi gắng thức khuya, dậy sớm, bỏ ngủ, quên ăn để học cho bằng bè bạn – những người hơn tôi cả tài lẫn sắc, để ít ra mình cũng chứng tỏ được cái khả năng của mình rằng mình không phải là con “số không”.
Em ạ! Ðó chỉ là một ví dụ, một phần rất nhỏ trong cuộc đời đủ thứ phức tạp của chúng ta. Ðiều khổ tâm nhất của chúng ta hằng ngày không phải là chuyện sinh già bệnh chết – vì đó là một lý đương nhiên không ai tránh khỏi. Chúng ta thường khốn khổ bức rức vì cái bản ngã của mình, sao mà ta nhỏ nhoi tầm thường quá, không có tí ti nào khả ái, khả kính dưới mắt ta và người chung quanh hết. Những lúc đối mặt với chính mình, ta phải cay đắng mà nhận chân rằng: ta chỉ là một nhân vật quá mức tầm thường, một con số không to tướng. Thế là anh chàng Bu trong ta bắt đầu tham gia vào trò “lên đồng”. Từ con số không, tùy theo cơ hội, hoàn cảnh và nhu cầu của người ái mộ chung quanh và chúng ta sẽ thành một cái gì đó. Mỗi người đội một danh hiệu khác nhau, nhưng cùng giống nhau ở một điểm là: chối bỏ con người tầm thường chân thật của mình để sống với lớp áo của những nhân vật rất mực phù hoa và giả dối.
Và em ơi! Một điều kỳ thú là chỗ chúng ta lẩn trốn, sợ hãi, lại chính là chỗ mà các thiền sư đại ngộ: Lục Tổ há chẳng xác định một cách hùng hồn rằng “bản lai vô nhất vật” đó sao? Dưới bất cứ lớp áo và nhãn hiệu nào, em và tôi đều phải công nhận rằng: trong những phút giây chiếu soi nhìn trở lại mình, ta thấy mình quả là “vô nhất vật”, nghĩa là: ta – không – là – gì – cả. Ta không phải là bà Chúa Xứ, bà Ngũ Hành, cô hay cậu gì hết, không là gì hết, nhưng ta vẫn “thấy, nghe, hiểu, biết” rất rõ ràng. Cái khả năng “kiến văn giác tri” đó, chúng ta đều bình đẳng như nhau. Ðây chính là chỗ mà Lục Tổ nói: “Ðâu ngờ tánh mình bản lai thanh tịnh, đâu ngờ tánh mình vốn đầy đủ cả” đó em!
Khi anh chàng Bu không còn lên đồng nữa, không còn là ông kia bà nọ thì không phải là anh ta chết, mà anh ta chỉ mất: mất hết những gì giả dối, không phải là mình thôi.
Nếu em thấy rằng “bà đồng” của mình hãy còn “thiêng” lắm và thà rằng em đội lốt, mang mặt nạ, chìu theo thị hiếu của bàn dân thiên hạ để được thờ phụng tung hô và được vô vàn quyền lợi phụ tùng khác thì em cứ tiếp tục. Không có ai, sẽ không có ai dám lên án chỉ trích em đâu! Vì lên án một bà đồng cũng có nghĩa là lên án luôn cả quần chúng đang ái mộ, và ai mà dại gì đứng ra chọc giận thiên hạ nhiều như thế. Em có thể yên tâm và tiếp tục.
Nhưng, nếu có hôm nào, quá mệt mỏi với cái trò chơi xốc nổi ấy, mặt nhìn tận mặt, soi lại lòng mình giữa cảnh hoang tàn của trà ôi, rượu nhạt, hoa héo, hương phai; nhìn thấy người chung quanh cũng chán chường, mệt mỏi không kém mình, thì, em hãy thử một lần, làm sống lại con người năm xưa của chính mình, của anh chàng Bu khuân vác thử xem. Ðiều này đòi hỏi nơi em rất nhiều can đảm và hy sinh, vì em sẽ mất hết uy danh, quyền lợi, mất hết những người ái mộ cung nghinh, em sẽ bị xem thường, khinh rẻ; em phải hy sinh hết vàng son phấn sáp, danh lợi cùng uy quyền, để đi may thuê, cuốc mướn, phải đổ mồ hôi, nước mắt mới có ăn.
Thế nhân thường đi tìm sự thật, nhưng sự thật lại quá phũ phàng, không giống như ta hằng mơ tưởng, nên thà rằng, cứ nhắm tít mắt lại để còn có một thế gian hoa mộng, huyền ảo, mê ly.
Câu chuyện này xin dừng lại nơi đây, vì tôi bất chợt nhận ra rằng, dường như tôi đang lên một cơn đồng xuất sắc hơn, hợp thời trang hơn … và thông thường, đôi khi ta ngỡ rằng mình đã thức giậy, đi ra khỏi cơn mơ, nhưng sau đó thật lâu ta mới vỡ lẽ ra rằng mình chỉ thay đổi tình tiết của giấc mơ mà thôi. Và điều làm chúng ta thấy mình đang lên đồng thật xuất sắc là khi có một hành động nào đó của ta bổng dưng có được nhiều người vỗ tay tán tụng; khi mà từ cái “không”, ta trở thành “có”, và cái “có” này ngày càng bành trướng nẩy nở ra. Chính những tràng pháo tay đã báo hại chúng ta không ít, nó xui ta cứ tiếp tục … chiêm bao, để được khen hoài, khen mãi, em có thấy như vậy không? Hèn chi trong kinh Duy Ma Cật, Bồ Tát khuyên ta cứ làm việc đi, làm mọi việc để được lợi mình và lợi người, nhưng phải làm sao để cả “tam luân” đều “không tịch” nghĩa là không thấy có mình, có người và có pháp nữa, chỉ đem thân huyễn mà làm việc huyễn (dĩ huyễn thân tác huyễn sự) mà thôi. Các Ngài khôn quá, phải không?
Dầu tại bãi chiến trường
Thắng ngàn ngàn quân địch
Tự thắng mình khó hơn
Chiến thắng ấy tối thượng.
(Pháp Cú 103)
Chỉ có ta làm điều tội lỗi
Chỉ có ta làm cho ta ô nhiễm
Chỉ có ta tránh điều tội lỗi
Chỉ có ta gội rửa cho ta
Trong sạch hay ô nhiễm là tự nơi ta
Không ai có thể làm người khác trở nên trong sạch
(Pháp Cú 145)
Cây Ðàn Kỳ Lạ
Sau lễ tiển đưa Phật và các thầy Tỳ-kheo trở về tịnh xá Kỳ Hoàn, vua A Xà Thế cùng với đình thần trở lại nội cung để dự buổi yến thân mật và bàn một vài việc cần làm thêm trong ngày đại lễ hôm ấy:
Câu chuyện mở đầu trong bữa tiệc là những lời sau đây do vua A Xà Thế phát khởi.
– Các khanh ! Quả nhơn rất bằng lòng và thỏa mãn về việc các khanh đã lo liệu quá ư tươm tất trong buổi lễ cúng dường Phật và giáo-hội vừa rồi.
– Hướng đôi mắt về phía đại thần Kỳ Bà, Vua A Xà Thế nói tiếp:
– Kỳ Bà ! Khanh ngồi nghĩ hộ quả nhơn xem còn có vật gì đáng làm nữa để quả nhơn tận hiến tấc dạ chí thành lên đức Chí tôn và giáo hội – những người tận tụy trong công việc giáo hóa chúng sinh nói chung, thần dân của quả nhơn nói riêng, trở về với ánh sáng chơn lý.
Ðứng dậy ngẫm nghĩ trong chốc lát, rồi đại thần Kỳ Bà thong thả tiếp:
– Tâu đại vương, ngoài sự cúng dường trai phạn và y phục mà Ðại vương đã dâng lên đức Chí tôn và giáo hội, theo thiển ý của hạ thần thì không việc gì có ý nghĩa hơn việc cúng dường ánh sáng. Vì ánh sáng tượng trưng cho trí tuệ, cho sự giác ngộ, ở đâu có ánh sáng thì ở đó bóng tối tan mất. Cũng như ánh sáng Phật và giáo hội đến đâu thì ở đó si ám và tội lỗi đều tiêu sạch. Ngu ý của hạ thần chỉ có bấy nhiêu, kính mong bệ hạ thẩm xét.
– Hay lắm ! Ý kiến của khanh rất chí lý ! Tiện đây nhờ khanh thay quả nhơn sắm sửa cho thật nhiều đèn đuốc để tối hôm nay dâng lên Phật và giáo hội tại tịnh xá Kỳ Hoàn.
Ðại thần Kỳ Bà vâng thuận. Buổi tiệc bắt đầu và tiếp diễn trong tình thân mật giữa nhà vua và các vị cận thần.
Chiều hôm ấy, trên đường trở về xóm nghèo, một bà lão hành khất gặp rất nhiều xe cộ, lính tráng, tấp nập khuân chở những thùng dầu, đèn và những chiếc lồng đèn ngũ sắc rực rỡ.
Hỏi thăm, bà lão hành khất biết đó là lễ vật của nhà vua đem cúng dường Phật và giáo hội.
Hình tướng trang nghiêm của Phật và các thầy Tỳ kheo lại hiện về trong óc bà. Bà vui hẳn lên và rất tán thành việc làm có ý nghĩa của nhà vua. Và xét lại tự thân, thấy mình chưa làm được một công đức nào đối với Phật và giáo hội, bà tự nghĩ phải sắm phẩm vật để cúng dường mới được. Thò tay vào bị, bà lão moi ra vỏn vẹn chỉ có hai tiền. Một sự quyết định nhanh chóng trong lòng khiến bà hoan hỉ đi ngay vào một cái quán gần đấy…
– Thưa cậu ! Làm ơn bán cho tôi hai tiền dầu thắp.
– Bà mà mua dầu làm gì ? Sao không mua đồ ăn lại mua dầu, nhà cửa đâu mà dầu với đèn !
– Thưa cậu ! Tôi thường nghe các bậc hiền đức trong làng bảo: “Ngàn năm muôn thuở mới có một đức Phật ra đời; người nào có nhiều phước duyên lắm mới gặp”. Hôm nay tôi may mắn được gặp nhưng chưa có lễ mọn nào để dâng hiến lên Ngài. Ðiều ấy làm tôi vô cùng ân hận. Nhơn tiện vua A Xà Thế sửa soạn đèn đuốc để dâng lên Ngài và giáo hội, tuy nghèo khổ, tôi cũng xin nguyện đem hai tiền mới xin được đây mua dầu dâng ánh sáng lên Ngài.
Nghe bà lão hành khất tỏ tấm lòng chân thiệt đối với Ðấng Giác ngộ, người chủ quán nhìn bà một cách cảm mến và hạ giọng: hai tiền chỉ được hai muỗng, nhưng tôi xin tặng bà ba muỗng nữa là năm, và cho bà mượn luôn vịt đèn nầy. Mong bà nhận cho.
Sau khi cám ơn người chủ quán, bà lão ra về với bao niềm hoan hỷ vì được người khác biểu đồng tình và giúp mình trong công việc phước thiện.
Trời chưa tối hẳn, những cây đèn xinh xắn, lộng lẫy của nhà vua đã được những đội thị vệ thắp sáng. Tịnh xá Kỳ Hoàn như vui nhộn hẳn lên. Ðó đây vang lừng những điệu nhạc dịu dàng, nhịp nhàng với lời ca ngợi của những cận thần thay nhà vua tán thán công đức của Phật và giáo hội. Từng đoàn người lũ lượt đi dự lễ, đông như trẩy hội. Bà lão hành khất cũng tiến mau về phía Tịnh xá và dừng bước trước những hoa đăng rực rỡ, bà vội vàng đến rót dầu vào cây đèn mà bà đã lau sạch và thay tim. Vừa mồi ánh sáng bà vừa phát nguyện: “Cúng dường ánh sáng nầy lên đức Thế Tôn và giáo hội, con chỉ cầu mong làm sao con cũng sẽ được trí tuệ sáng suốt như các đấng giác ngộ trong mười phương”. Bà lại nghĩ: “Dầu ít như vầy có sáng cũng chỉ đến nữa đêm là cùng”. Nhưng mạnh dạn bà thầm nguyện “Nếu quả thật sau này tôi sẽ được giác ngộ như lòng tôi mong muốn hôm nay, thì số dầu ít ỏi nầy cũng làm cho cây đèn sáng mãi không tắt”.
Sau khi treo cây đèn trên một cành cây, bà lão hành khất đi thẳng vào Tịnh xá, chí thành lễ Phật rồi ra về…
Số đèn của nhà vua, tuy được những đội lính thay nhau lo việc châm dầu, thay tim, nhưng ít cây được sáng suốt đêm, cây thì bị gió thổi tắt, cây thì bị phật cháy…
Duy cây đèn của bà lão hành khất thì ánh sáng nổi bật hơn muôn vạn cây đèn khác và cháy mãi đến sáng mà dầu vẫn khôn hao.
“Này đệ tử ! Trời đã sáng, hãy ra tắt hết những cây đèn còn đỏ”, đức Phật dạy với ngài Mục Kiền Liên như thế.
Tôn giả Mục Kiền Liên làm theo lời Phật. Nhưng đến cây đèn của bà lão hành khất, thì ba lần tôn giả quạt mạnh, nhưng ánh sáng cũng không mất. Lần thứ tư, tôn giả cầm ngay vạt áo cà sa và vận hết thần công diệu lực của mình quạt hắt vào đèn nhưng đèn lại rực sáng hơn trước. Tôn giả Mục Kiền Liên và những người chung quanh đều ngạc nhiên cho đó là một cây đèn kỳ lạ chưa từng thấy.
Ngay lúc ấy, đức Phật vừa đến, Ngài điềm đạm bảo:
“Thôi ! Ðệ tử hảy thôi. Dù cho đệ tử có tận dụng cả thần lực của đệ tử cũng không thể nào làm tắt được cây đèn nầy, vì đó là ánh sáng công đức của vị Phật trong tương lai”.
Lời dạy ấy của đức Phật đã làm cho nhiều đệ tử của Ngài muốn tìm hiểu ai là người đã cúng dường đèn ấy. Sau một cuộc điều tra kỹ càng, họ biết rõ người cúng dường cây đèn kỳ lạ ấy chính là một bà lão hành khất !
Câu chuyện nầy đến tai vua A Xà Thế. Nhà vua cho vời đại thần Kỳ Bà đến để thuật lại câu chuyện và hỏi:
– Kỳ Bà ! Như khanh đã biết được quả nhân làm rất nhiều công đức và cúng dường rất nhiều đèn nhưng không thấy đức Thế Tôn dạy gì về quả báo của quả nhân. Trái lại, bà lão hành khất chỉ cúng dường có một cây đèn lại được Ngài thọ ký là nghĩa làm sao ?
Ðại thần Kỳ Bà đứng lên ngần ngại mãi không dám trả lời.
– Kỳ Bà ! Ngươi đừng ngại gì cả, quả nhân muốn tìm hiểu những khuyết điểm chứ không bao giờ dám nghĩ khác về đức Thế Tôn.
Ðôi mắt của đại thần Kỳ Bà bỗng sáng lên và khiêm tốn trả lời câu hỏi của nhà vua:
– Tâu đại vương ! Theo những điều mà hạ thần được phỏng văn từ miệng của những người thân cận các thầy Tỳ kheo và cộng thêm sự suy luận của hạ thần thì tuy đại vương cúng dường rất nhiều phẩm vật, song tâm ý không được chí thành cho lắm và có lẽ đại vương không phát đại nguyện; cho nên tuy có công đức mà không làm sao bằng công đức của bà lão hành khất chỉ cúng dường một cây đèn nhưng đó là cả một tấm lòng chí thiết, một dạ chí thành đối với những đấng Giác ngộ và nhất là lời thện nguyện cao rộng của bà ấy.
Nghe đại thần Kỳ Bà phân tích tỷ mỉ về động cơ của sự cúng dường của mình và của bà lão hành khất, sau một hồi suy nghĩ và xét lại bản tâm, vua A Xà Thế liền cởi mở được tất cả những điều thắc mắc.
“Công đức cúng dường không đánh giá nơi phẩm vật, mà căn cứ nơi sự thành tâm”.
Ðức Phật Với Con Voi Dữ
Thời kỳ Phật hành đạo tại thành Vương Xá, kinh đô của vua A Xà Thế, vua A Xà Thế rất tham lam hung bạo, đã sát vua cha để dành ngôi báu. A Xà Thế lại hay thù ghét và manh tâm làm hại những kẻ trung lương nên thường lập vây cánh bè đảng làm hậu thuẫn.
Trong số bè cánh nhà vua lại có Ðề Bà Ðạt Ða em họ Ðức Phật. Vị này cũng sẵn lòng ganh tỵ với kẻ khác, thấy Ðức Phật được nhiều người cung kính, Ðề Bà Ðạt Ða cũng giả cách tu hành như Phật, nhưng không hề được ai cung kính, nên tức giận muốn tìm cách hại Phật. Nhưng những điều không may có bao giờ đến với những người có lòng từ bi cao cả, đấng Giác-ngộ đã tu hành trong nhiều kiếp. Nhưng chứng nào tật ấy, ông liền liên kết với vuaA Xà Thế cầu xin nhà vua cộng tác trong việc sát hại Phật. Nhờ sựbằng lòng của nhà vua, nên Ðề Bà Ðạt Ða đến tại sở nuôi voi năn nỉ với bọn nài:
Ta đây là bạn thân của nhà vua, các ngươi giúp ta việc nầy, ta sẽ xin nhà vua cho lương cao chức lớn. Sáng mai thầy Gotama (đức Phật) sẽ đi trì bình khất thực qua đây, các ngươi cứ việc thả con voi hung dữ Nalagiri ra để làm thịt thầy .
Sáng hôm sau, đức Phật cùng một số đệ tử đi vào thành Vương Xá để trì bình khất thực, trông thấy bóng Ngài, bọn nài thả voi Nalagiri ra. Dân chúng nội thành phải tán loạn, dày xéo nhau mà chạy, lo sợ cho tánh mạng của mình, kẻ leo lên cây người núpở tường cao nhà kín. Sau khi đã tìm được chỗ ẩn núp chắc chắn, những con mắt hiếu kỳ hay lo sợ cũng cố tìm mắt để nhìn cho đượcsự việc sắp xảy đến.
Voi thấy bóng người đàng trước, nó cong đuôi, thẳng vòi chống tai xông tới như vũ bão. Các vị đệ tử thấy cơ nguy mới bạch với đức Phật:
– Bạch Thế Tôn! Con voi Nalagiri nó có tánh hung dữ và thù ghét loài người đ ã đến nơi kià! Ðức Phật vẫn thản nhiên dạy rằng:
-Nầy các Tỳ-kheo, các người không nên sợ hãi. Không bao giờ một vị Chánh-giác phải chết vì một tai nạn ghê gớm như thế. Những đấng Như-lai chỉ tịch diệt khi thì giờ đã đến bằng cái chết tự nhiên và vẫn sống mãi trong tâm linh mọi người.
Trong khi ấy có tiếng bàn tán nhỏ to của mọi người đang ẩn núp. Những kẻ thiếu đức tin, u mê cho rằng: đó là một sự hy sinh vô lý, nên thốt ra những câu đầy mỉa mai:
-Chà, uổng quá, vị Sa môn kia trẻ đẹp như thế mà lại hy sinh cho con voi hung dữ giết hại thì thiệt là một việc dại khờ.
Nhưng nhóm người có đủ đức tin hơn và hiểu biết Chơn lý đôi chút thì cho rằng: đó là một cuộc thử thách, sự tranh đấu giữaloài vật với vị Từ phụ của loài người.
Voi hung hăng đãphóng tới trước mặt đức Phật, mọi ngườiphập phòng lo sợ. Nhưng Ngài vẫn điềm nhiên đem tất cả lòng Từbi vô lượng để đối lại với sự hung dữ của con voi. Voi như bị một sức thôi miên huyền bí, từ từ hạ vòi và qùy ngay trước mặt Ngài. Ðức Phật dịu dàng thoa vào đầu quy y cho voi và nói:
– Này voi ơi! Ngươi nên ăn ở hiền lành để đạt đến an vui chớ nên hung hăng như trước đây nữa. Voi như hiểu được lời Ngài, từ từ lấy vòi hút tất cả các bụi đã bám vào chân Ngài và rải lên khắp đầu nó như để chứng tỏ nó đã biết ăn năn và xin phục thiện. Ðoạn cúi đầu đảnh lễ Ngài rồi trở vềchuồng cũ. Từ đó về sau voi Nalagiri trở nên hiền lành dễ thương. Và đó cũng là một trong những nguyên nhân làm cho Ðề Bà Ðạt Ða biết hối hận! Vua Tần Bà Ta La biết trở về với Chánh Pháp.
 
Chuyện Âm Phủ
Tại âm phủ, một hồn ma đang quỳ đối chất trước Diêm chúa, giữa hai vị công an của diêm phủ là Ngưu Ðầu và Mã Diện.
Diêm chúa ngôì trên chín bệ dõng dạc ra lệnh:
– Phán quan đâu, đọc hồ sơ lý lịch của tên này xem!
Phán quan liền cất giọng đọc, rõ ràng và chậm rãi:
– Trần văn Trụi, 82 tuổi, du thủ du thực, vô gia cư lẫn nghề nghiệp, trúng gió chết tại chợ Bến Thành.
Hồn ma lễ phép đưa một tay xin góp ý:
– Muôn tâu Diêm chúa, cho con được phép cải chính.
– Hử?
– Thưa, con đúng tên là Trần văn Trụi thật, nhưng mới 28 tuổi chứ không phải là 82 tuổi đâu ạ!
– Sao? Phán quan …, hắn nói thế đúng không?
Phán quan giật mình, kéo áo lau kính, xem lại sổ bộ, ấp úng:
– Dạ … dạ …
– Ðúng hay sai chớ dạ cái gì?
– Bẩm đúng ạ!
– Chèn đét ơi! Mấy người làm ăn kiểu này thì chết tôi rồi … Ngưu Ðầu đâu?
– Dạ! Có con đây ạ.
Mau lên giữ xác nó, kẻo người ta đem chôn bây giờ. Tại sao mà ra cớ sự như vậy hử?
Ngưu đầu vội vã ra đi. Phán quan gãi đầu ấp úng:
– Dạ … dạ tại mới mua chiếc kính, nhìn chưa quen mắt, nên ngu thần đọc nhầm 28 thành 82 ạ … xin Thánh thượng bớt giận, thần sẽ đi thay kính lập tức.
– Nó sống đến bao nhiêu tuổỉ?
– Muôn tâu, … 82 tuổi ạ!
– Vậy thì chờ đợi gì nữa mà không dắt nó đi nhập xác?
Hồn ma liền xen vào:
– Muôn tâu Diêm chúa! Những tưởng nhân gian mới làm ăn bê bối … dè đâu … đây cũng vậy. Con đang đi ăn phở với người yêu trước chợ Bến Thành thì thấy hai cha nội nầy đến thộp cổ dắt đi … Có lẽ bây giờ người yêu của con uống thuốc chuột chết theo con rồi cũng không biết chừng.
Diêm vương hạ giọng:
– Thôi! “Thiên tãi nhất thì” mới có một vụ lầm lẫn. Mũi dại thì lái chịu đòn… Ngươi cho ta xin lỗi vậy, về dương gian đi … vui vẻ nhé!
– Muôn tâu, xin Ngài hãy bồi thường thiệt hại cho con.
– Mi muốn gì? Giấy tiền vàng bạc nơi đây đâu thể đem về trển mà xài được.
– Thưa … con chỉ muốn xin rằng luôn tiện Ngài cho con liếc sơ qua cái phiếu lý lịch số ba, tức là cung tình duyên gia đạo của con ấy. Hiện con có lấy được người mình yêu và nàng có thành thật với con không ạ!
– A! Thằng nhãi …! Biết trước vị lai để làm gì? Chẳng sướng ích gì đâu con ạ!
– Muôn tâu, nếu Ngài không bằng lòng, khi về dương gian, con nhất định sẽ làm ầm lên về cái chuyện này, con sẽ …
– Tặc! Thằng ranh! Ðừng có dở trò hăm dọa, ta không ngán mi đâu … mà thôi … Phán quan đâu?
– Dạ, có thần đây.
– Ðọc phiếu số ba cho nó nghe đi!
– Vâng ạ! Phán quan liền lau kính trắng giọng đọc: “Trần văn Trụi, sinh ngày … tại Cao Lãnh, con nhà giàu, đẹp trai, học giỏi. Ðương sự có số công danh, khoa cử, thi đâu đậu đó. Năm 27 tuổi tốt nghiệp kỹ sư công chánh hạng bình được bổ nhiệm về Sài Gòn. Năm 28 tuổi y cưới vợ là một hoa khôi ở Cầu Bông. Năm 29 tuổi làm trưởng ty Công Chánh ở Tây Ninh, năm 30 bị gọi nhập ngũ, gắn lon trung úy, năm 31 tuổi có con trai đầu lòng, năm 32 tuổi có con gái … năm 33 tuổi bị giật mìn chết phanh thây ở cầu Ông Phủ, nếu còn âm đức y sẽ thoát chết, chỉ gẫy một chân và mù một mắt, vinh thăng đại úy rồi giãi ngũ. Năm 40 tuổi … hai đứa con lớn của y bị chết ở Vũng Tàu, năm 45 tuổi bị sốt tê liệt, nằm nhà thương hai năm. Năm 50 tuổi, nhà cháy, vợ y hóa điên, năm 82 tuổi y mất trí nhớ, du thủ du thực đi xin ăn lẩn quẩn ở các chợ, Cầu Muối, Bến Thành rồi trúng gió chết …”
Phán quan đọc xong, hồn ma tháo mồ hôi hột, đứng chết sững, Diêm Vương thúc:
– Sao? Ðủ chưa … xong rồi đó. Ði đi cha nội …
Hồn ma vẫn còn chần chờ.
Phán quan hối:
– Lè lẹ lên! Ở đó mà kêu ca hoài, cái xác mi mà sình lên thì chỉ còn nước đem chôn.
Trần văn Trụi đáp một cách xuôi xị:
– Bẩm! Hay là để cho thiên hạ chôn quách đi cho rồi!
Em thân mến:
Biết rõ vị lai không phải là một chuyện dễ chịu cho lắm. Hèn chi mà Phật và chư Tổ thường căn dặn chúng ta rằng: “Trong khi tu nếu chưa sạch phiền não mà rủi ro có được thần thông, biết được quá khứ vị lai thì phải buông bỏ cho lè lẹ kẻo phải lâm vào cảnh ngộ như chàng Trần van Trụi trên đây!
Con Chó Vô Ơn
Thầy kể truyện:
“Tu viện có một con chó tên là Tiểu Bạch, nó bị xà mâu ăn lở loét cùng mình. Sư khám thấy vậy, động lòng trắc ẩn, chế thuốc bôi cho nó. Thuốc thật công hiệu nên chỉ mới xức có một lần mà ghẻ đã khô mặt. Nhưng cũng từ dạo đó, mỗi lần thoáng thấy bóng ân nhân, Tiểu Bạch liền hậm hực bỏ đi nơi khác”.
Xong, Thầy kết luận:
“Mấy đứa tụi con, khi có lỗi được huynh đệ nhắc nhở, đâm ra tức tối tìm cách trả đũa lại … thì coi chừng giống như con Tiểu Bạch!”
Lời bàn
Em thân mến, chúng sanh trong cõi này, dù là nhân đạo hay súc sinh đạo cũng giống nhau ở chỗ này. Nhớ ân và đáp ân là một điều thật khó trong khi đem oán trả ân là một chuyện dễ … ợt. Có lẽ vì thế mà chúng ta thường thắp hương đảnh lễ những kẻ biết ghi ân chăng? Và trong kinh cũng thường tán thán Tôn Giả Xá Lợi Phất là người mà “một chút ân nhỏ xíu cũng không quên”.

Bồ Tát và Chúng Sanh

Trời mưa vừa dứt, một bà cụ khoác áo tơi đi ra phố. Gặp một chú bé đang nghịch nước bẩn bên vệ đường, bà cau mặt quát:
– Thằng cu, mày có lên ngay không? Khiếp!
Chú bé phản đối:
– Cháu xí cái vũng này từ hồi mới mưa lận. Bà kiếm cái khác đi, thiếu gì!
Em thân mến!
Bồ Tát là những vị mà sách vở định nghĩa là: “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh”, riêng chúng ta có thể hiểu một cách giản dị như thế này: Nếu chúng ta tin rằng mình và tất cả chúng sanh đều có khả năng giác ngộ, thì ta đã có một mầm Bồ Tát trong lòng rồi. Trên đường tu chừng nào thành Phật hãy hay, còn hiện tại chúng ta hãy tùy thuận giúp đỡ người chung quanh bằng tất cả khả năng hạn hẹp của mình. Vì tin tưởng nơi Phật tánh của mình và người nên Bồ Tát không bao giờ mệt mỏi trên bước đường tự lợi, lợi tha. Nhưng … tâm Bồ Tát thì khó phát mà lại rất dễ thối thất. Em có biết tại sao không?
Em đừng tưởng là khi thực hành Bồ Tát hạnh, đi đến đâu thiên hạ cũng rải hoa và trải chiếu bông đón tiếp mình hết đâu … mà coi chừng vỡ mộng đấy nhé. Như trường hợp của bà cụ trên đây chẳng hạn. Nếu các tôn giả chúng sanh đang ưa thích điều gì mà mình cản trở thì coi chừng, họ có thể nghi là mình muốn đoạt cái sở thích đó. Trong trường ấy, nếu ta chưa đủ tài thuyết phục họ thì phải chạy cho thật lẹ kẻo … u đầu!
Nếu em có giúp đỡ ai điều gì thì chớ nên hí hửng chờ người tuyên dương công trạng mình, vì có hằng khối kẻ bàng quan đang bĩu môi phẩm bình rằng: “Ðồ ngu, chuyên môn làm mọi thiên hạ”, hoặc là: “Cái số cực … “, “cái nghiệp nặng … “. Chà! Coi bộ em muốn thối tâm rồi phải không? Nếu mình là Bồ Tát thứ thiệt thì khỏi nói, đàng này … thật kẹt cho hàng Bồ Tát sơ tâm như bọn mình. Có lẽ vì thế mà trong các kinh, đức Phật đã không tiếc lời ca ngợi hạnh Bồ Tát và Ngài cũng đã từng nhắc nhở chúng ta rằng: Muốn giảng kinh Pháp Hoa, tức là đi gieo rắc niềm tin rằng: “Tất cả chúng sanh đều có khả năng thành Phật”, Pháp Sư phải ngồi tòa Như Lai và mặc áo Như Lai. Tòa Như Lai là tâm từ bi, áo Như Lai là giáp nhu hòa nhẫn nhục đó em ơi! (1984)

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: